|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chuyển
Bà Trần Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Minh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 28/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Khắc Đ, sinh năm 1992; Nơi thường trú: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Khắc L (đã chết); con bà: Hà Thị B, sinh năm 1962. Gia đình có 04 anh chị em. Bị cáo là con thứ tư. Vợ: Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1994; con: 02 con: lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Bản án số 10/2012/HSST ngày 02/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản là 36.400.000 đồng, phạm tội ngày 15/3/2012), ra trại ngày 17/3/2013 (đã được xóa án tích).
- Bản án số 128/2019/HSST ngày 15/7/2019, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Ra trại ngày 19/9/2022 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/12/2024, tạm giữ từ ngày 04/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 – Công an thành phố H.
2. La Tử Q, sinh năm 1995; Nơi thường trú: TDP Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bị cáo không có bố; Con bà: La Thị Phương M, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em; Bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Bản án số 03/2021/HSST ngày 11/01/2021, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đặc xá ngày 01/9/2022 (đã được xóa án tích).
- Ngày 18/6/2010 bị đưa đi trường G thuộc T1 thi hành án hình sự - Hỗ trợ trư pháp, thời hạn 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 01/5/2011.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 03/12/2024, tạm giữ từ ngày 04/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 – Công an thành phố H.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Hà Thị Kiều T, sinh năm 2005. Nơi thường trú: Xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Khắc Đ và La Tử Q quen biết nhau từ năm 2022 khi cùng bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an thành phố H. Sau khi ra trại, Đ và Q vẫn giữ liên lạc với nhau và không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên cả hai nảy sinh ý định rủ đi trộm cắp xe máy để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Ngày 03/12/2024, Đ mang theo 02 vam phá khóa, 01 tay công, 01 chiếc chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda đến gặp Q tại khu vực đê H, Đ, Hà Nội để Q sau đó điều khiển chiếc xe máy mang nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 34F1-409.87 chở Đ đi lang thang tại các khu vực trên địa bàn thành phố Hà Nội để tìm kiếm sơ hở trộm cắp xe máy. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, cả hai đi đến khu vực trước cửa hầm gửi xe trước tòa S, khu đô thị V, T, N, Hà Nội thì thấy có để nhiều xe máy nhưng không người trông giữ nên Q xuống xe đi vòng quanh thì phát hiện thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát: 35N1-57037 của chị Hà Thị Kiều T (Sinh năm: 2005; Trú tại: Xã G, G, Ninh Bình) để không khóa cổ nên nói cho Đ biết. Đ sau đó đến gần chiếc xe máy trên dùng tay phải rút dây điện ổ khóa ở dưới yếm xe rồi lấy chiếc chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda mang sẵn cắm vào ổ khóa xe (mục đích để phòng nếu có ai nhìn thấy hỏi, thì Đ sẽ bảo rằng xe của Đ bị hỏng khóa) và ngồi lên yên xe lùi xe lại để đi. Khi Đ vừa lùi xe được khoảng 01 mét thì Đ và Q bị lực lượng bảo vệ của khu đô thị V phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng và giao cho cơ quan công an phường T để giải quyết.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, BKS: 35N1 – 570.37; 02 mũi vam phá khóa, 01 tay công bằng kim loại màu trắng; 01 chìa khóa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax (Thu giữ của Đỗ Khắc Đ); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 34F1 – 409.87; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Pro (Thu giữ của La Tử Q).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 297 ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận N, kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh – đen – bạc, BKS: 35N1 – 570.37, số máy: JA39E2706507, số khung: RLHJK3922NY204580, đăng ký lần đầu ngày 29/8/2022, đã qua sử dụng, trị giá tài sản là 12.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Khắc Đ và La Tử Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 35N1 – 570.37, quá trình điều tra xác định: Xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Tra cứu thông tin biển kiểm soát xác định xe đứng tên đăng ký là anh Đinh Ngọc Đ1, sinh năm: 1999, HKTT: thôn M, N, Ninh Bình. Tại cơ quan điều tra, anh Đ1 khai mua chiếc xe trên từ khoảng đầu năm 2024. Đến tháng 10 năm 2024, do không có nhu cầu sử dụng anh Đ1 đã bán xe cho cửa hàng mua bán xe máy N (địa chỉ: L, N, Ninh Bình) với giá 13.300.000 đồng. Chị Hà Thị Kiều T khai đã mua chiếc xe trên tại cửa hàng xe máy Nam T với giá 15 triệu đồng và cung cấp giấy bán xe cùng đăng ký xe máy mang tên Đinh Ngọc Đ1.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave xanh đen bạc đeo BKS: 34F1-409.87 (số khung: RLHJA3926NY226690, số máy: JA39E – 2723680), quá trình điều tra xác định, xe có số khung, số máy là số nguyên thủy. Biển kiểm soát 34F1-409.87 được cấp cho xe nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng bạc, số máy: JA39E3068894, số khung: RLHJA3928PY447887, chủ đăng ký xe là anh Bùi Việt A (Sinh năm: 2004; Trú tại: Thị trấn T, T, Hải Dương). Tại Cơ quan điều tra, anh Bùi Việt A khai, vào ngày 03/12/2024, anh bị mất chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng bạc biển kiểm soát 34F1-409.87 tại số A ngõ AK, P, B, Hà Nội và đã trình báo tại Công an phường P.
Tiến hành xác minh chủ sở hữu theo số khung: RLHJA3926NY226690, số máy: JA39E – 2723680 xác định số máy, số khung của xe hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc BKS: 90 B4-002.53, chủ sở hữu là anh Trần Huy D (SN: 2002, HKTT: Thôn C, H, L, Hà Nam). Tại Cơ quan điều tra, anh D khai ngày 29/11/2024, anh D để chiếc xe trên tại bãi để xe của Công ty tại địa chỉ đường C, Khu công nghiệp M, phường M, B, Hà Nội. Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo, anh D đến kiểm tra mới phát hiện chiếc xe của mình bị mất.
Tại Cơ quan điều tra, La Tử Q khai chiếc xe trên do Q mua của một người đàn ông không quen biết trên mạng xã hội với giá 4 triệu đồng, giao nhận xe tại khu vực trước cổng bến xe M, N, Hà Nội. Khi mua xong, Q không thay đổi biển kiểm soát, không sửa chữa lắp đặt gì khác. Q cam đoan không trộm cắp chiếc xe trên cũng như không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nào khác ngoài vụ việc trộm cắp xe máy cùng Đỗ Khắc Đ vào ngày 03/12/2024 tại T, N, Hà Nội.
Ngày 06/02/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave xanh đen bạc, biển kiểm soát 35N1 – 570.37 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Hà Thị Kiều T.
Ngày 12/02/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến sự việc mất trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc BKS: 90B4-002.53, số khung RLHJA3926NY226690, số máy JA39E-2723680 của anh Trần Huy D và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng bạc, BKS: 34F1-409.87 của anh Bùi Việt A để chuyển Cơ quan điều tra Công an quận B xác minh, điều tra theo thẩm quyền.
Về dân sự: Chị Hà Thị Kiều T không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Lời khai nhận tội của Đỗ Khắc Đ và La Tử Q phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả dẫn giải, xác minh tại hiện trường và các tài liệu điều tra khác.
Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKSNTL ngày 26/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Đỗ Khắc Đ và La Tử Q về tội: Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: các bị cáo Đ và Q khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thừa nhận lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Bị hại: Chị T vắng mặt nên không có lời trình bày tại Tòa.
Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 41/CT-VKSNTL ngày 26/2/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo La Tử Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Về dân sự: Chị T đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy +
- 02 (hai) vam phá khóa.
- 01 ( một) chìa khóa xe có chữ Hon da.
Trả lại :
- 01( một) điện thoại kiểu dáng Iphone 11 promax, số I: 352844115833225 có gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động.
- 01( một) điện thoại kiểu dáng Sam sungsố Imei: 352844115833225 có gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động.
Lời nói sau cùng các bị cáo Đ và Q đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Đ và Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 19 giờ ngày 03/12/2024, tại khu vực trước cửa hầm gửi xe tòa S202 khu đô thị V, T, N, Hà Nội, Đỗ Khắc Đ và La Tử Q đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 35N1 – 570.37 trị giá 12 triệu đồng của chị Hà Thị Kiều T.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Đ và Q đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức về điều khiển hành vi của mình, tuy nhiên các bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, mặt khác các bị cáo đều có nhân thân xấu:
Đối với bị cáo Đ: Bản án số 10/2012/HSST ngày 02/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản là 36.400.000 đồng, phạm tội ngày 15/3/2012), ra trại ngày 17/3/2013 (đã được xóa án tích). Bản án số 128/2019/HSST ngày 15/7/2019, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Ra trại ngày 19/9/2022 (đã được xóa án tích).
Đối với bị cáo Q: Tại Bản án số 03/2021/HSST ngày 11/01/2021, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đặc xá ngày 01/9/2022 (đã được xóa án tích); Ngày 18/6/2010 bị đưa đi trường G thuộc T1 thi hành án hình sự - Hỗ trợ trư pháp, thời hạn 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 01/5/2011 nên cần phải xử lý nghiêm phù hợp với hành vi bị cáo gây ra.
Xét vai trò của các bị cáo thì HĐXX thấy rằng: các bị cáo cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản nên vai trò của bị cáo ngang nhau và đều phải chịu hình phạt phù hợp với hành vi các bị cáo gây ra.
[4] Khi lượng hình phạt, xét các bị cáo tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đều có nhân thân xấu, các bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội do vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tính giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, tuy nhiên bị hại đã nhận lại tài sản và không có yầu cầu gì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, các bị cáo không có nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về dân sự: Chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: .
Tịch thu tiêu hủy:
- - 02 (hai) vam phá khóa.
- - 01 (một) tay công kim loại
- - 01 (một) chìa khóa xe có chữ Honda.
Trả lại cho bị cáo Đ 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone 11 promax, số I: 352844115833225 có gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động.
Trả lại cho bị cáo Q 01 (một) điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy J7 Pro, số Imei 1: 353317095283157, số Imei 2: 353318095283155, gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 35N1 – 570.37, quá trình điều tra xác định: Xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Tra cứu thông tin biển kiểm soát xác định xe đứng tên đăng ký là anh Đinh Ngọc Đ1, sinh năm: 1999, HKTT: thôn M, N, Ninh Bình. Tại cơ quan điều tra, anh Đ1 khai mua chiếc xe trên từ khoảng đầu năm 2024. Đến tháng 10 năm 2024, do không có nhu cầu sử dụng anh Đ1 đã bán xe cho cửa hàng mua bán xe máy N (địa chỉ: L, N, Ninh Bình) với giá 13.300.000 đồng. Chị Hà Thị Kiều T khai đã mua chiếc xe trên tại cửa hàng xe máy Nam T với giá 15 triệu đồng và cung cấp giấy bán xe cùng đăng ký xe máy mang tên Đinh Ngọc Đ1.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave xanh đen bạc đeo BKS: 34F1-409.87 (số khung: RLHJA3926NY226690, số máy: JA39E – 2723680), quá trình điều tra xác định, xe có số khung, số máy là số nguyên thủy. Biển kiểm soát 34F1-409.87 được cấp cho xe nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng bạc, số máy: JA39E3068894, số khung: RLHJA3928PY447887, chủ đăng ký xe là anh Bùi Việt A (Sinh năm: 2004; Trú tại: Thị trấn T, T, Hải Dương). Tại Cơ quan điều tra, anh Bùi Việt A khai, vào ngày 03/12/2024, anh bị mất chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng bạc biển kiểm soát 34F1-409.87 tại số A ngõ AK, P, B, Hà Nội và đã trình báo tại Công an phường P.
Ngày 06/02/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave xanh đen bạc, biển kiểm soát 35N1 – 570.37 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Hà Thị Kiều T.
Ngày 12/02/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến sự việc mất trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc BKS: 90B4-002.53, số khung RLHJA3926NY226690, số máy JA39E-2723680 của anh Trần Huy D và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng bạc, BKS: 34F1-409.87 của anh Bùi Việt A để chuyển Cơ quan điều tra Công an quận B xác minh, điều tra theo thẩm quyền.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[9] Về kháng cáo: Các bị cáo, bị hại trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1, Điều 173; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Khắc Đ và bị cáo La Tử Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2024.
Xử phạt bị cáo La Tử Q 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2024.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 02 (hai) vam phá khóa.
- - 01 (một) tay công kim loại
- - 01 (một) chìa khóa xe có chữ Honda.
Trả lại cho bị cáo Đ 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone 11 promax, số I: 352844115833225 có gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động.
Trả lại cho bị cáo Q 01 (một) điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy J7 Pro, số Imei 1: 353317095283157, số Imei 2: 353318095283155, gắn 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 133 ngày 10/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Về án phí: Bị cáo Đ và bị cáo Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đ và bị cáo Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Thanh |
Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 50/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Khắc Đ và La Tử Q phạm tội trộm cắp tài sản
