|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày 03-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Sơn
Ông Nguyễn Thế Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 17/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ đối với bị cáo:
Trần Văn T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 15/5/1965 tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Tổ G, Khu phố E, phường H, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 06/12; Con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Trần Thị Kim H1 (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị H2, sinh năm 1968 và 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 03/11/2024 đến nay (có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Nguyễn Văn H3 (đã chết)
Đại diện hợp pháp: Ông Phan Anh T1, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố T, phường M, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị hại: Bà Trương Thị H4, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 01/11/2024, Trần Văn T đi dự tiệc cùng bạn bè ở khu phố M, phường M, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và có sử dụng rượu bia. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô BKS: 72A- 215.83 lưu thông trên đường V theo hướng từ phường M đi phường H, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để về nhà của mình. Khi đi đến Km 02+300 đoạn thuộc tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do không làm chủ tay lái và không giữ khoảng cách an toàn với xe liền trước do T điều khiển dẫn đến đâm vào xe đạp do bà Nguyễn Thị H5 và xe mô tô BKS: 20K1-00516 do bà Trương Thị H4 điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước.
Hậu quả: Bà Nguyễn Thị H5 chết tại hiện trường; bà Trương Thị H4 bị thương nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 402/PC09- Đ2-PY ngày 30/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B-VT, kết luận:
- “1. Các kết quả chính:
- - Kết quả khám nghiệm: Tụ máu dưới da đầu trán phải. Màng não cứng sung huyết. Chảy máu lan tỏa dưới màng cứng bán cầu não phải. Tụ máu rải rác trong cơ ngực trái. Gãy cung trước xương sườn 8-9 bên trái. Dập-rách rải rác phổi trái. Dập phổi phải. Dập cơ tim quanh gốc động mạch chủ.
- - 2. Kết luận:
- - Kết luận nguyên nhân chết: Nguyễn Thị H5 chết do đa chấn thương.
- - Kết luận khác: Vật tác động gây chấn thương đầu-ngực là do vật tày diện tiếp xúc rộng gây nên, tác động trực tiếp vào vùng đầu-ngực cơ thể nạn nhân theo chiều hướng từ trước ra sau.”
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm của Trung tâm Y tế thị xã P tiến hành xét nghiệm định lượng Ethanol trong máu đối với Trần Văn T vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 01/11/2024 cho kết quả: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 3.65mmol/L (3.65 Milimol/lít máu)
Hiện trường vụ tai nạn giao thông thuộc Km 02+300 đường V đoạn qua tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đây là đường đôi, đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ nét đứt giữa đường chia chiều lưu thông, mỗi chiều lưu thông rộng 05m80 chia thành 02 làn lưu thông bằng vạch kẻ sơn trắng nét đứt. Lấy lề phải của chiều lưu thông hướng từ phường M đi phường H làm lề chuẩn. Lấy trụ điện ký hiệu K80MX/80/01 nằm bên trong lề chuẩn làm điểm cố định. Các dấu vết vụ tai nạn nằm chủ yếu trên làn thứ 2 tính từ vạch kẻ chia chiều lưu thông vào lề chuẩn. Vị trí xe ô tô biển số 72A- 215.83 được xác định (theo kết quả dựng lại hiện trường) có hướng di chuyển từ phường M đi phường H, vị trí khi xảy ra va chạm được xác định: T2 trục bánh trước bên phải cách lề chuẩn 01m45 và cách khu vực va chạm thứ nhất (giữa ô tô và xe máy) 0m80, tâm trục bánh sau bên phải cách lề chuẩn 01m60. Vị trí xe mô tô 20K1-00516 sau tai nạn đổ ngã sang phải nằm bên ngoài lề chuẩn, tâm trục bánh trước cách lề chuẩn 02m20, tâm trục bánh sau cách lề chuẩn 0m90, tâm lốc máy cách khu vực va chạm thứ nhất 20m00 và cách điểm cố định 12m50, cách đầu vị trí nạn nhân 06m60. Vị trí xe đạp sau tai nạn ngã sang phải bên ngoài lề chuẩn, tâm bánh trước cách lề chuẩn 01m80, tâm bánh sau cách lề chuẩn 0m80, tâm trục xe cách khu vực va chạm thứ hai (giữa ô tô và xe đạp) 08m90 và cách vị trí đầu nạn nhân H5 01m30. Khu vực va chạm thứ nhất (giữa ô tô và xe máy) cách lề chuẩn 01m40. khu vực va chạm thứ hai (giữa ô tô và xe đạp) cách lề chuẩn 0m80.
- - Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn nêu trên là do lỗi của Trần Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 72A- 215.83 trong tình trạng đã sử dụng rượu bia, nồng độ 3.65mmol/L (3.65 Milimol/lít máu), không chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trước, vi phạm quy định tại Khoản 8 Điều 8, Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, hậu quả xảy ra tai nạn làm bà Nguyễn Thị H5 chết.
- - Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Trần Văn T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân H5 số tiền 250.000.000 đồng và bồi thường cho bà H4 số tiền 25.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân H5 là ông Phan Anh T1 và bà H4 đã nhận bồi thường và có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn T.
- - Về xử lý vật chứng: 01 xe ô tô BKS: 72A-215.83 là tài sản hợp pháp của bị cáo Trần Văn T; 01 xe mô tô BKS: 20K1-00516 là tài sản hợp pháp của bà Trương Thị H4, 01 xe đạp là tài sản hợp pháp của nạn nhân Nguyễn Thị H5 nên ngày 10/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2201/QĐ trao trả tài sản trên cho bị cáo T, bà H4 và ông Dương Xuân H6 là chồng của nạn nhân H5.
Tại Cáo trạng số 52/CT – VKS - PM ngày 11/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đã truy tố Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ thực hiện quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Văn T mức án 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Tại phiên tòa, Trần Văn T không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
[1]. Về tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và phương tiện, kết luận giám định pháp y nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ, ngày 01/11/2024, tại Km 02+300 đường V đoạn thuộc tổ A, khu phố T, phường M, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trần Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 72A- 215.83 trong tình trạng đã sử dụng rượu bia, nồng độ 3.65mmol/L (3.65 Milimol/lít máu), lưu thông trên đường không chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trước và xảy ra tai nạn giao thông với xe đạp do bà Nguyễn Thị Hồng điều K và xe mô tô BKS: 20K1-005.16 do bà Trương Thị H4 điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả bà Nguyễn Thị H5 chết.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của Trần Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
-
[3]. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo:
Bị cáo Trần Văn T điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường nhưng không tuân thủ đúng quy định pháp luật về giao thông dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng của bà Nguyễn Thị H5. Mặc dù bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã gây ra.
Về lỗi: Như đã phân tích ở trên, lỗi trong vụ tai nạn giao thông được xác định là lỗi hoàn toàn của bị cáo, bị cáo khi tham gia giao thông đã sử dụng rượu bia, nồng độ 3.65mmol/L (3.65 Milimol/lít máu), lưu thông trên đường không chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trước nên đã xảy ra tai nạn giao thông.
-
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:
- [4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- [4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại tòa, Trần Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị H5 số tiền 250.000.000 đồng và bồi thường cho bà H4 số tiền 25.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân H5 là ông Phan Anh T1 và bà H4 đã nhận tiền bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần áp dụng điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- [4.3]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
-
[5]. Về mức hình phạt:
Như đã phân tích ở trên, nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là lỗi của bị cáo nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội đã gây ra. Tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng mức dưới khung hình phạt đối với bị cáo, cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
-
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại ông Phan Anh T1 và bà Trương Thị H4 đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo và không tiếp tục yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
-
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đã xử lý xong.
-
[8]. Về án phí:
Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
-
Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Trần Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thu Hiền |
Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 50/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
