|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2025/HS-ST
Ngày: 16-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Thẩm phán: Ông Đinh Tấn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Nho
Ông Nguyễn Quốc Vương
Ông Trần Thanh Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:
Ông Phan Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55A/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn T, sinh ngày 02/02/1962, tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ G, thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn H và bà Đặng Thị M (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H1 (Không đăng ký kết hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 10/12/1985, Ủy ban nhân dân tỉnh Q quyết định đưa đi tập trung giáo dục cải tạo trong thời gian 03 năm về tội “Trộm cắp tài sản công dân; bộ đội đào ngũ; đánh người gây thương tích và gây rối” (chấp hành xong vào ngày 12/12/1991).
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/4/2024, chuyển tạm giam ngày 27/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn T theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Nguyễn Thành L – Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: A N, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ G, thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
* Người làm chứng:
- Bà Tạ Thị Ngọc T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ D, thôn T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
- Bà Trương Thị T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: C P, S, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (xin xét xử vắng mặt).
- Bà Đinh Thị T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Sơn P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị H1 chung sống với nhau như vợ chồng tại Tổ G, thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam nhưng không có đăng ký kết hôn. Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị H1 có 02 người con chung là chị Đỗ Thị Đ (sinh năm 1993) và anh Đỗ Công L1 (sinh năm 2000) đều đã có gia đình và ở nhà riêng. Trong quá trình chung sống, giữa T và bà H1 có mâu thuẫn với nhau nên bà H1 ra ở riêng. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, Đỗ Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS: 92C1-032.95 (do T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe) đến chợ H2 gặp bà Nguyễn Thị H1 (bà H1 đang bán thịt heo tại đây) để nói chuyện và yêu cầu bà H1 quay về nhà nhưng bà H1 không đồng ý. Trong lúc nói chuyện thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, Đỗ Văn T cầm con dao trên bàn bán thịt của bà H1 chém một nhát trúng vào vùng đầu của bà H1 làm bà H1 nằm gục xuống bàn, T tiếp tục dùng tay trái đè lên vùng vai của bà H1 còn tay phải cầm dao chém vào vùng phía sau đầu của bà H1 ba nhát và chém vào tay phải của bà H1 một nhát. Sau đó, Đỗ Văn T vứt con dao tại hiện trường và điều khiển xe mô tô đi về nhà tại Tổ G, thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
Khi về đến nhà, Đỗ Văn T dắt xe mô tô BKS: 92C1-032.95 vào đường luồng bên hông nhà, đạp xe ngã xuống nền, mở nắp bình xăng để xăng chảy ra bên ngoài. T đi xuống khu vực bếp đạp ngã xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, BKS: 92C1-189.67 (do T đứng tên giấy đăng ký xe) xuống nền, T mở cốp xe rồi mở nắp bình xăng để xăng chảy ra. Trong lúc đi lùi về phía sau, T làm ngã chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS: 92C1-049.20 (xe này của chị Đỗ Thị Đ - là con ruột của T). T lấy bật lửa tại nhà bếp đốt cháy xe mô tô BKS: 92C1-189.67. Tiếp đó, T đi vào phòng ngủ của tại Tầng 1 đốt cháy trong phòng làm hư hỏng 01 chiếc giường bằng gỗ, 01 tủ gỗ, 01 tivi hiệu SamSung 55inch. T quay ra lại chỗ xe mô tô BKS: 92C1-032.95 đốt cháy chiếc xe này và bỏ đi ra ngoài đường. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh Q đã đến hiện trường dập tắt đám cháy. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đưa Đỗ Văn T về trụ sở làm việc, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đối với bà Nguyễn Thị H1 sau khi bị Đỗ Văn T chém nằm gục tại chỗ thì được người dân đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện T4, thành phố H. Sau đó, bà H1 được chuyển đến Bệnh viện Đ1 để tiếp tục điều trị, đến ngày 02/5/2024 thì xuất viện.
* Vật chứng tạm giữ trong vụ án:
- - 01 (một) con dao bằng kim loại dài 46,8cm (gồm: phần cán dài 11cm đường kính chuôi 3,3cm; phần lưỡi dao dài 35,8cm, chỗ rộng nhất là 7,3cm, chỗ hẹp nhất 5,5cm, sống dày 0,5cm) thu giữ tại hiện trường vụ án, đây là con dao Đỗ Văn T chém bà Nguyễn Thị H1.
- - 01 (một) dụng cụ mài dao và 04 (bốn) con dao trên bàn bán thịt của bà Nguyễn Thị H1 tại chợ H2; mẫu tóc rơi rụng trên mặt bàn (có dính máu).
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel của bà Nguyễn Thị H1.
- - 01 (một) đĩa VCD hiệu Maxell màu vàng, bên trong chứa dữ liệu điện tử là một đoạn video thời lượng 04 phút 03 giây, thời gian từ 11 giờ 27 phút 05 giây đến 11 giờ 31 phút 09 giây ngày 18/4/2024 trích xuất tại camera an ninh tại chợ H2, ghi lại diễn biến vụ việc Đỗ Văn T chém bà Nguyễn Thị H1.
- - 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh việc ghi lời khai Đỗ Văn T vào ngày 18/4/2024.
* Kết quả giám định thương tích của bà Nguyễn Thị H1:
- - Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 270/KL-TTCT-TTPY ngày 24/04/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q xác định bà Nguyễn Thị H1 bị thương tích 57% (năm mươi bảy phần trăm), với các thương tích chi tiết: chấn thương sọ não gây nứt vỡ xương sọ vùng đỉnh phải dài # 60mm, đỉnh trái dài # 24mm, nứt xương sọ vùng chẩm trái dài # 23mm, tổn thương đụng dập não xuất huyết vùng đỉnh phải kích thước # (19 x 27)mm và vết thương cánh tay phải gây đứt cơ cánh tay quay, cơ nhị đầu, cơ tam đầu, dập 1 đoạn # 2cm thần kinh quay và thần kinh giữa, gãy đoạn 1/3 dưới xương cánh tay phải đã được phẫu thuật khâu màng cứng, cân cơ và khâu các cơ bị đứt, kết hợp xương bằng nẹp vis và truyền 07 đơn vị máu đồng nhóm tạm ổn. Nếu không cấp cứu kịp thời gây mất máu cấp sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
- - Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 439/KL-TTCT-TTPY ngày 19/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q xác định bà Nguyễn Thị H1 bị thương tích 71% (bảy mươi mốt phần trăm).
* Kết quả điều tra xác định các tài sản do Đỗ Văn T gây hư hỏng:
- + 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, BKS: 92C1-032.95, mua năm 2011 với giá 34.000.000 đồng (Đỗ Văn T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe), bị cháy hư hỏng hoàn toàn;
- + 01 xe mô tô hiệu Honda SH150i, BKS: 92C1-189.67, mua năm 2016 với giá 98.000.000 đồng (Đỗ Văn T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe), bị cháy hư hỏng hoàn toàn;
- + 01 chiếc giường ngủ bằng gỗ dài 1,8m mua vào năm 2014, bị cháy hư hỏng hoàn toàn;
- + 01 chiếc tủ quần áo bằng gỗ không rõ kích thước, mua năm 2014, bị cháy hư hỏng hoàn toàn;
- + 01 chiếc tivi hiệu S 55 inch không rõ thời gian mua, bị cháy hư hỏng hoàn toàn.
* Kết quả định giá tài sản: Kết luận định giá tài sản số 3661/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Nam xác định:
- + 01 xe mô tô hiệu Honda SH150i, BKS: 92C1-189.67, màu đen, số máy KF14E0127044, số khung RLHKF1435FY026976, sản xuất năm 2016 giá trị thiệt hại là 22.650.000 đồng;
- + 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, BKS: 92C1-032.95, màu nâu đen, số máy JF24E0601305, số khung RLHJF2403BY077037, sản xuất năm 2011 giá trị thiệt hại 6.400.000đồng.
- + Đối với các tài sản là giường, tủ quần áo, tivi: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Nam từ chối định giá theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ (do không thu thập đủ thông tin hoặc không có giá trị để làm cơ sở định giá).
* Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bị cáo Đỗ Văn T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cũng như thiệt hại về tài sản.
Cáo trạng số 16/CT-VKSQN-P2 ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Giết người”; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 10 năm đến 11 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bị cáo Đỗ Văn T bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết, đồng thời xử lý vật chứng theo như bản cáo trạng đã đề cập.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn T trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố và luận tội của Kiểm sát viên về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo T chỉ có ý định hù dọa, không có ý định giết bị hại, sau khi phạm tội đã tác động con gái bồi thường tiền viện phí cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì tình nghĩa vợ chồng, bị cáo khai báo nhận tội, thật sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội chưa đạt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhẹ hơn mức đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, để bị cáo có cơ hội sớm được trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn T khai nhận hành vi phạm tội, đồng ý với nội dung bào chữa của người bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định:
Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị H1 chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn; quá trình chung sống, giữa bị cáo T và bà H1 phát sinh mâu thuẫn nên bà H1 ra ở riêng. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, Đỗ Văn T điều khiển xe mô tô Honda Lead BKS 92C1-032.95 đến chợ H gặp bà Nguyễn Thị H1 để yêu cầu bà H1 quay về nhà nhưng bà H1 không đồng ý. Hai bên có lời qua tiếng lại với nhau thì Đỗ Văn T cầm con dao chém một nhát vào vùng đầu của bà Nguyễn Thị H1 làm bà H1 nằm gục tại chỗ, T tiếp tục dùng tay trái đè lên vùng vai của bà H1, tay phải cầm dao chém ba nhát vào vùng sau đầu và một nhát vào tay phải của bà H1; hậu quả, bà Nguyễn Thị H1 bị thương tích 71%.
Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Đỗ Văn T sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, hoàn toàn có khả năng dẫn đến chết người, đã cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng: Tính mạng, quyền được sống của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người khác đều bị pháp luật trừng trị và bị dư luận xã hội lên án. Bị cáo Đỗ Văn T là người có đủ năng lực, nhận thức rõ được việc dùng dao tấn công vào vùng đầu, vùng tay có thể làm bị hại tử vong nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng và sức khoẻ của người khác và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, nên cần phải áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhằm tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại Nguyễn Thị H1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt (hậu quả bị hại Nguyễn Thị H1 không chết mà bị thương tích) nên áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự 2015, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi xem xét lượng hình.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 con dao bằng kim loại dài 46,8cm (gồm: phần cán dài 11cm đường kính chuôi 3,3cm; phần lưỡi dao dài 35,8cm, chỗ rộng nhất là 7,3cm, chỗ hẹp nhất 5,5cm, sống dày 0,5cm) là hung khí mà bị cáo Đỗ Văn T chém bà Nguyễn Thị H1 và mẫu tóc rơi rụng trên mặt bàn (có dính máu). Xét vật chứng nêu trên là phương tiện phạm tội và vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel; 01 dụng cụ mài dao và 04 (bốn) con dao là tài sản của bà H1 nên cần trả lại cho bà Nguyễn Thị H1.
- - Đối với 01 (một) đĩa VCD hiệu Maxell màu vàng, bên trong chứa dữ liệu điện tử là một đoạn video thời lượng 04 phút 03 giây, thời gian từ 11 giờ 27 phút 05 giây đến 11 giờ 31 phút 09 giây ngày 18/4/2024 trích xuất từ camera an ninh tại chợ H2, ghi lại diễn biến Đỗ Văn T chém bà Nguyễn Thị H1; 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh ghi lại lời khai Đỗ Văn T vào ngày 18/4/2024. Xét vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo T nên cần lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[5] Những vấn đề liên quan khác:
Bị cáo Đỗ Văn T có hành vi đốt xe mô tô Honda SH150i, BKS: 92C1-189.67 và xe mô tô Honda Lead, BKS: 92C1-032.95 gây thiệt hại 29.050.000 đồng. Tuy nhiên, kết quả điều tra xác định 02 xe mô tô là tài sản được hình thành trong thời gian Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị H1 sống chung với nhau như vợ chồng và đều do T đứng tên chủ sở hữu. Giữa T với bà H1 không có thỏa thuận về việc phân chia tài sản trước đó và cũng không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về phân chia tài sản đối với 02 xe mô tô nêu trên nên không có cơ sở xác định phần giá trị thiệt hại về tài sản của bà H1 do T gây ra. Do đó, hành vi của Đỗ Văn T không đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q có văn bản đề nghị Công an thành phố H xử phạt hành chính đối với Đỗ Văn T là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được xét miễn án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 18/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại dài 46,8cm (gồm: phần cán dài 11cm đường kính chuôi 3,3cm; phần lưỡi dao dài 35,8cm, chỗ rộng nhất là 7,3cm, chỗ hẹp nhất 5,5cm, sống dày 0,5cm) là hung khí mà bị cáo Đỗ Văn T chém bà Nguyễn Thị H1 và mẫu tóc rơi rụng trên mặt bàn (có dính máu).
- - Trả lại cho bà Nguyễn thị H1 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel; 01 dụng cụ mài dao và 04 (bốn) con dao.
- (Các vật chứng này hiện nay đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo biên bản giao nhận vật chứng và tài sản ngày 22/01/2025).
- - Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa VCD hiệu Maxell màu vàng, bên trong chứa dữ liệu điện tử là một đoạn video thời lượng 04 phút 03 giây, thời gian từ 11 giờ 27 phút 05 giây đến 11 giờ 31 phút 09 giây ngày 18/4/2024 trích xuất từ camera an ninh tại chợ H2, ghi lại diễn biến Đỗ Văn T chém bà Nguyễn Thị H1 và 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh việc ghi lời khai Đỗ Văn T vào ngày 18/4/2024.
3. Án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn án phí cho bị cáo Đỗ Văn T.
4. Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/6/2025).
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ánh Nguyệt |
Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về vụ án hình sự sơ thẩm về tội giết người
- Số bản án: 50/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 10 năm tù
