Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày 09 - 4 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Lương Anh

Các Hội thẩm nhân dân.

- ông Hoàng Ngọc Hùng.

- bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.

- Thư ký phiên tòa: bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Mai Anh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 tháng 4 và 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLST-HS, ngày 26/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST- HS, ngày 28/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐHPT – ST, ngày 13/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐHPT – ST, ngày 27/03/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Huy G (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/6/1980 tại huyện T, Thành phố Hà Nội. Cư trú tại bản L, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Nguyễn Huy L (Nguyễn Viết L1), sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị L2; sinh năm 1954, có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2024 đến ngày 06/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đình L3 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/6/1980 tại huyện Q, Thành phố Hà Nội. Cư trú tại xóm E, thôn P, xã S, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam: Không. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Bị cáo con ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1943 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1943, có vợ là Đinh Việt H1, sinh năm 1992 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Đình L3 15.000.000,đ (Mười lăm triệu đồng) về tội Đánh bạc theo bản án số 31/2015/HSST, ngày 21/7/2015 (đến nay đã được xoá án tích); Ngày 09/9/2015, bị Công an huyện T, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng C1, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình xử phạt Nguyễn Đình L3 1.500.000,đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “đánh chắn” theo Quyết định số 140/QĐXPHC (bị cáo đã chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2024 đến ngày 30/12/2024 (34 ngày tạm giữ, tạm giam) được thay đổi biện pháp ngăn chặn “cho bảo lĩnh”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng Công T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/8/1982 tại huyện T, tỉnh Sơn La. Đăng ký thường trú tại tổ H, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Hiện cư trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Bị cáo con ông Hoàng Duy H2, sinh năm 1952 và bà Trịnh Thị M, sinh năm 1959, bị cáo có vợ là Ngô Thị H3, sinh năm 1972 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Hoàng Công T1 42 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 56/2011/HSST, ngày 21/4/2011 (đến nay đã được xoá án tích). Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2024 đến ngày 30/12/2024 (34 ngày tạm giữ, tạm giam) được thay đổi biện pháp ngăn chặn “cho bảo lĩnh”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Vĩ Thúy P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/12/1984 tại huyện M, tỉnh Lai Châu. Cư trú tại bản P, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Hoa; Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nữ. Con ông Vĩ Kiến H4, sinh năm 1956 và bà Trần Thị D, sinh năm 1958, có chồng là Phạm Quang S, sinh năm 1973 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2024 đến ngày 06/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Văn T2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/3/1997 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Cư trú tại tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lái máy xúc. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1970 và Nguyễn Thị T3, sinh năm 1974, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2024 đến ngày 06/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 27/11/2024, tổ Công tác Đ Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lầu, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang tại tầng hai của ngôi nhà số A, ngõ E, đường T có 05 người nam, nữ đang ngồi trên chiếc giường được kê trong phòng đang chơi xóc đĩa, gồm: Nguyễn Huy G (chủ nhà); Nguyễn Văn T2; Hoàng Công T1; Vĩ T; Nguyễn Đình L3. Giữa vị trí ngồi của G, T2, T1, P và Nguyễn Đình L3 có 01 bát sứ màu trắng, 01 đìa sứ màu trắng, 04 quân vị hình tròn và số tiền 47.050.000,đ, cụ thể số tiền tại vị trí phía trước chỗ ngồi của các bị cáo như sau: Nguyễn Huy G có số tiền 10.900.000,đ, Nguyễn Văn T2 có số tiền 550.000,đ, Hoàng Công T1 có số tiền 13.000.000,đ, Vĩ T có số tiền 2.000.000,đ, Nguyễn Đình L3 có số tiền 20.600.000,đ. Các đối tượng khai nhận đang thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền Việt Nam đồng, toàn bộ số tiền trên giường tại vị trí phía trước chỗ ngồi của các bị cáo là số tiền sử dụng để đánh bạc. Ngoài ra trong phòng còn có Nguyễn Văn L4, sinh năm 1980, cư trú tại: thôn T, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội và Lò Thị N, sinh năm 1987, cư trú tại: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (Nguyễn Văn L4 và Lò Thị N chỉ ngồi xem không tham gia đánh bạc).

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Huy G, Nguyễn Văn T2, Hoàng Công T1, Vĩ Thúy P, Nguyễn Đình L3 và thu giữ, niêm phong vật chứng gồm:

  • - Số tiền 47.050.000,đ (Bốn mươi bẩy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - 01 (Một) bát sứ màu trắng, miệng bát hình tròn đường kính 11,8cm, phía dưới có in chữ “SD Made in Vietnam”, đã qua sử dụng.
  • - 01 (Một) đĩa sứ màu trắng, hình tròn đường kính 20cm, phía dưới có in chữ “CK ChuanKuo FINE PORCELAIN HOTEL Made in Vietnam "
  • - 04 (Bốn) quân vị hình tròn, đường kính 02cm được cắt từ lá bài tú lơ khơ, một mặt màu đỏ, một mặt màu đen trắng.
  • - 02 (Hai) lá bài tú lơ khơ, một mặt màu đỏ, một mặt màu đen trắng, mỗi lá bị cắt 02 hình tròn đường kính 02cm.
  • - 01 (Một) dụng cụ bấm cắt quân vị, vỏ bằng nhựa màu da cam, đã qua sử dụng.

Ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S ban hành quyết định trưng cầu giám định số 1654/QĐ – ĐCSHS, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh S giám định đối với tổng số tiền 47.050.000,đ đã thu giữ của các bị cáo là tiền thật hay giả.

Tại Kết luận giám định số 2096/KL-KTHS, ngày 03/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh S đã kết luận: “Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận:

Chiều ngày 27/11/2024, bị cáo Vĩ Thúy P rủ Lò Thị N và Nguyễn Văn T2 đến thành phố S để thăm bạn đang điều trị ở Bệnh viện Đ1, N và T2 đồng ý. Cả ba đón xe ô tô Buýt đi từ xã M, huyện M ra thành phố S. Khi đến khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh S thuộc phường C, thành phố S thì xuống xe, P gọi điện thoại cho G nhờ G đưa đi thăm bạn, G đồng ý. G điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10, màu trắng, biển kiểm soát 26A-094.29 đưa P, N, T2 đến Bệnh viện Đ1. Sau đó, cả bốn người quay về nhà G ở số nhà A, ngõ E, đường T thuộc bản L, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La chơi. Khi G, P, N, T2 đang ngồi nói chuyện ở phòng khách tại tầng một thì có Nguyễn Đình L3 đến nhà G chơi. Lúc này G nói với mọi người là: “Ai muốn xanh chín thì vào bếp lấy bát, đĩa", nghe như vậy P đi vào trong bếp lấy 01 chiếc đĩa sứ và 01 chiếc bát sứ màu trắng rồi tất cả đi theo G lên phòng ở tầng hai (phòng giáp phòng vệ sinh). G dùng dụng cụ bấm quân vị cắt một lá bài “4 bích", một lá bài “4 nhép" ở hai góc để làm thành 04 (bốn) “quân vị”. Sau đó G cùng T2, P và L3 dùng bát, đĩa, 04 quân vị để chơi xóc đĩa với nhau trên chiếc giường được kê trong phòng, Lò Thị N ngồi ở cạnh P để xem mọi người chơi. Khi chơi thì mọi người ngồi xếp thành vòng tròn trên giường, Nguyễn Đình L3 ngồi ở góc cuối giường bên phải, gần cửa ra vào, T2 ngồi bên tay trái của L3, P ngồi bên tay trái của T2, G ngồi bên tay trái của P (bên tay phải của Nguyễn Đình L3). Khi bốn người chơi được một lúc thì có Nguyễn Văn L4 và Hoàng Công T1 cũng đến. T1 tham gia đánh bạc còn Nguyễn Văn L4 không chơi, chỉ ngồi xem.

Các bị cáo cùng nhau chơi xóc đĩa với hình thức, tỷ lệ như sau: Mỗi ván sẽ có một người làm “cái”, người làm “cái” sẽ cho 04 “quân vị” vào trong đĩa rồi úp bát lên, dùng hai tay cầm bát, đĩa xóc vài lần để cho các “quân vị” bên trong bị đảo lộn rồi đặt xuống giường, người chơi sẽ đặt cược theo hai bên tay của người làm “cái”, chẵn là bên tay phải, lẻ là bên tay trái (chẵn được quy định là khi có 02 “quân vị” hoặc cả 04 “quân vị” cùng ra một mặt, lẻ là khi có 03 “quân vị” ra cùng một mặt). Người chơi sẽ đặt cược với số tiền tùy ý, thấp nhất là 50.000,đ, nhiều nhất là 1.000.000,đ, nếu đặt cược đúng với các số mặt của “quân vị” xuất hiện sau khi mở bát (chẵn hoặc lẻ) thì người chơi sẽ thắng được gấp đôi số tiền đã đặt cược, nếu không thì người chơi sẽ thua và mất toàn bộ số tiền đã đặt cược, người làm “cái” sẽ lấy số tiền đã đặt cược của người thua để trả thưởng cho người thắng, trong trường hợp số tiền đặt cược của bên thắng nhiều hơn số tiền đặt cược của bên thua thì người làm “cái” sẽ phải trả số tiền còn thiếu cho bên thắng, nếu số tiền đặt cược của bên thắng ít hơn số tiền đặt cược của bên thua thì người làm “cái” sẽ được hưởng số tiền còn thừa đó.

Trong quá trình chơi, bị cáo G sử dụng tổng số tiền để đánh bạc là 10.900.000,đ, cụ thể: Ban đầu G sử dụng số tiền 7.300.000,đ để tham gia đánh bạc, khi bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thì G đang thắng được thêm số tiền là 3.600.000,đ

Bị cáo T2 sử dụng tổng số tiền để đánh bạc là 7.650.000,đ, trước khi bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thì T2 đã bị thua mất số tiền 7.100.000,đ, tại thời điểm bị bắt T2 còn số tiền là 550.000,đ.

Bị cáo T1 sử dụng tổng số tiền để đánh bạc là 13.000.000,đ cụ thể: Ban đầu T1 sử dụng số tiền 12.000.000,đ để tham gia đánh bạc, khi bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thì T1 đang thắng được thêm số tiền là 1.000.000,đ.

Bị cáo P sử dụng tổng số tiền để đánh bạc là 7.000.000,đ, trước khi bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thì P đã bị thua mất số tiền 5.000.000,đ, tại thời điểm bị bắt P còn lại số tiền là 2.000.000,đ.

Bị cáo L4 sử dụng tổng số tiền để đánh bạc là 20.600.000,đ, cụ thể: Ban đầu L4 sử dụng số tiền 13.100.000,đ để đánh bạc, khi bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thì L4 đang thắng được thêm số tiền là 7.500.000,đ.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT- VKSTP, ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy G, Nguyễn Đình L3, Nguyễn Văn T2, Hoàng Công T1, Vĩ Thúy P về tội Đánh bạc, theo khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy G, Nguyễn Đình L3, Nguyễn Văn T2, Hoàng Công T1, Vĩ Thúy P phạm tội Đánh bạc và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với các bị cáo như sau:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy G, Nguyễn Đình L3, Nguyễn Văn T2, Hoàng Công T1, Vĩ Thúy P phạm tội Đánh bạc.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 58; khoản 1 điều 35 của Bộ luật Hình sự:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy G từ 35.000.000,đ đến 40.000.000,đ sung công quỹ Nhà nước.

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 58; khoản 1 điều 35 của Bộ luật Hình sự:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 30.000.000,đ đến 35.000.000,đ sung công quỹ Nhà nước.
  • - Xử phạt bị cáo Vĩ Thúy P từ 25.000.000,đ đến 30.000.000,đ sung công quỹ Nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 58; khoản 2 điều 35; điều 36 của Bộ luật Hình sự:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L3 và bị cáo Hoàng Công T1 mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  • - Phạt bổ sung bị cáo L3 và T1 mỗi bị cáo từ 10.000.000,đ đến 15.000.000,đ sung công quỹ Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 88 (Tám mươi tám) tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); 08 (T4) tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng); 08 (T4) tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); 12 (Mười hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); 02 (Hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 01 (Một) tờ tiền VNĐ mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) được đóng gói trong 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi: “Nguyễn Huy G cùng đồng phạm - Đánh bạc, xảy ra ngày 27/11/2024, tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Gồm có: số tiền 47.050.000đ (Bốn mươi bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)”.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa màu xanh, bên ngoài dán giấy màu trắng in chữ: "01 Bát sứ + 01 Đĩa sứ + 04 Quân vị + 02 lá bài tú lơ khơ + 01 dụng cụ bấm cắt quân vị”.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Hoàng Công T1 (bản gốc).

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra va nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Ngày 27/11/2024 các bị cáo Nguyễn Huy G, Nguyễn Đình L3, Nguyễn Văn T2, Hoàng Công T1, Vĩ Thúy P đã có hành vi đánh bạc trái phép tại nhà của bị cáo G dưới hình thức chơi “xóc đĩa”, với tổng số tiền dùng để đánh bạc bị thu giữ là 47.050.000,đ (Bốn mươi bảy triệu, không trăm năm mươi ngàn đồng).

Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

  • – Lời khai nhận tội của các bị cáo; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 27/11/2024; Kết luận giám định số 2096/KL-KTHS, ngày 03/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh S; Lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Huy G, Nguyễn Đình L3, Nguyễn Văn T2, Hoàng Công T1, Vĩ Thúy P phạm tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần quyết định hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Phân hoá vai trò phạm tội: Quá trình đánh bạc các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc với nhau mà cùng nhau đánh bạc, do đó đánh giá đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo G là người khởi xướng, rủ rê việc đánh bạc, các bị cáo khác đều tích cực thực hiện tội phạm, tuy nhiên cần xem xét mức độ phạm tội của từng bị cáo để lên một mức án phù hợp, tương xứng với mỗi hành vi của từng bị cáo gây ra. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 47.050.000,đ. Các bị cáo cố ý cùng thực hiện tội phạm do đó các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm theo quy định tại điều 17 Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt cần căn cứ điều 58 Bộ luật Hình sự xem xét tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

[4.1] Về nhân thân: Các bị cáo G, P, T2 đều có nhân thân tốt, trước lần phạm tội này chưa bị xét xử về hành vi phạm tội nào khác và chưa bị xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Bị cáo L3 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội xử phạt 15.000.000,đ về tội Đánh bạc theo bản án số 31/2015/HSST, ngày 21/7/2015 (đến nay đã được xoá án tích); Ngày 09/9/2015, bị Công an huyện T, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình xử phạt Nguyễn Đình L3 1.500.000,đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “đánh chắn” theo Quyết định số 140/QĐXPHC (bị cáo đã chấp hành xong).

Bị cáo T1 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 42 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 56/2011/HSST, ngày 21/4/2011 (đến nay đã được xoá án tích).

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo G, P, T2 đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đều là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo G có bố là ông Nguyễn Huy L (Nguyễn Viết L1) và mẹ là bà Nguyễn Thị L2 là những người có công lao trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bố bị cáo được thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, mẹ bị cáo được thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo G theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo L3, T1, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo G, P, T2 có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, các bị cáo cũng rất hối hận với hành vi của mình, các bị cáo đều trưởng thành và có khả năng lao động do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cần xem xét xét xử hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo, việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, các bị cáo đều đang tại ngoại, do đó cần áp dụng điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân tốt, có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với các bị cáo L3 và T1 đều đã từng phạm tội hình sự và đã bị Tòa án xét xử nhưng cả hai bị cáo không lấy lần bị xét xử đó làm bài học để sửa chữa những sai lầm của mình mà lại tiếp tục phạm tội, do đó cần phải nghiêm khắc xét xử các bị cáo, tuy nhiên nhận thấy các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, các bị cáo cũng rất hối hận với hành vi của mình, do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, việc xử phạt các bị cáo cải tạo không giam giữ không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, các bị cáo đều đang tại ngoại, do đó cần áp dụng điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân tốt, có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Do bị các bị cáo L3 và T1 đều bị tạm giữ 34 (Ba mươi tư) ngày để điều tra nên cần trừ đi thời gian bị tạm giữ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với từng bị cáo theo quy định tại khoản 1 điều 36 Bộ luật Hình sự (01 ngày bị tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ).

[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền):

Đối với các bị cáo G, P, T2 do đã xem xét áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) và miễn khấu trừ thu nhập: Đối với các bị cáo L3 và T1 đều là người trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự, trước đó các bị cáo đã bị xét xử về tội phạm hình sự do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung để giáo dục, cải tạo các bị cáo và căn cứ vào tình hình, điều kiện kinh tế của hai bị cáo, cần xem xét áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với mỗi bị cáo 5.000.000,đ là phù hợp theo quy định tại khoản 2 điều 35 Bộ luật Hình sự.

Do các bị cáo L3 và T1 đều không có việc làm và thu nhập không ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án gồm có:

  • - Đối với số tiền 47.050.000,đ thu giữ khi bắt quả tang, bao gồm 88 (tám mươi tám) tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng); 08 (tám) tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); 08 (tám) tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng); 12 (mười hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 20.000đ (hai mươi nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền VNĐ mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng), được niêm phong trong một phong bì, đây là số tiền các bị cáo đã sử dụng thực hiện hành vi phạm tội dùng để đánh bạc, là tiền do phạm tội mà có, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 hộp bìa màu xanh, bên ngoài dán giấy màu trắng in chữ: "01 Bát sứ + 01 Đĩa sứ + 04 Quân vị + 02 lá bài tú lơ khơ + 01 dụng cụ bấm cắt quân vị phát hiện tạm giữ ngày 27/11/2024”. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (Một) Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Hoàng Công T1 (bản gốc). Đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo Hoàng Công T1, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cần xem xét trả lại giấy tờ trên cho bị cáo T1 quản lý, sử dụng, tuy nhiên đây là giấy tờ đã cũ, hiện không còn sử dụng và bị cáo hiện nay đã được cấp căn cước công dân mới để thay thế giấy chứng minh nhân dân trên và tại phiên tòa, bị cáo T1 đề nghị không nhận lại giấy tờ trên, nhận thấy Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Hoàng Công T1 trên không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với hai đối tượng Nguyễn Văn L4, sinh năm 1980, cư trú tại: thôn T, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội và Lò Thị N, sinh năm 1987, cư trú tại: bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Đây là những người quen của các bị cáo, đã có mặt tại nhà của bị cáo Nguyễn Huy G nhưng anh L4, chị N không tham gia đánh bạc, cũng không góp tiền vào việc đánh bạc cùng các bị cáo, do đó hành vi của anh L4 và chị N không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Do hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điều 17; khoản 1 điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 58 Bộ luật Hình sự.

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy G phạm tội Đánh bạc.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy G 40.000.000,đ (Bốn mươi triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điều 17; khoản 1 điều 35; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 58 Bộ luật Hình sự.

  • - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T2, Vĩ Thúy P phạm tội Đánh bạc.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 35.000.000,đ (Ba mươi lăm triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
  • - Xử phạt bị cáo Vĩ Thúy P 30.000.000,đ (Ba mươi triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

3. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điều 17; khoản 2 điều 35; điều 36; điểm s khoản 1 điều 51; điều 58 Bộ luật Hình sự.

  • - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L3, Hoàng Công T1 phạm tội Đánh bạc.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L3 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 102 (Một trăm linh hai) ngày, bị cáo còn phải thi hành tiếp là 08 (Tám) tháng 23 (Hai mươi ba) ngày. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an Thành phố H nhận được Quyết định thi hành bản án và bản sao bản án của Tòa án.
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Công T1 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 102 (Một trăm linh hai) ngày, bị cáo còn phải thi hành tiếp là 08 (Tám) tháng 23 (Hai mươi ba) ngày. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh S nhận được Quyết định thi hành bản án và bản sao bản án của Tòa án.
  • - Phạt bổ sung – phạt tiền bị cáo Nguyễn Đình L3 và Hoàng Công T1 mỗi bị cáo 10.000.000,đ (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
  • - Giao bị cáo Nguyễn Đình L3 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo L3 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục bị cáo.
  • - Giao bị cáo Hoàng Công T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo T1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục bị cáo.
  • - Các bị cáo Nguyễn Đình L3 và Hoàng Công T1 phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
  • - Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 88 (Tám mươi tám) tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); 08 (T4) tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng); 08 (T4) tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); 12 (Mười hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); 02 (Hai) tờ tiền VNĐ mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 01 (Một) tờ tiền VNĐ mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) được đóng gói trong 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi: “Nguyễn Huy G cùng đồng phạm - Đánh bạc, xảy ra ngày 27/11/2024, tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Gồm có: số tiền 47.050.000đ (Bốn mươi bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)”. Mặt sau dán giấy niêm phong và có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Phòng PC09 Công an tỉnh S.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa màu xanh, bên ngoài dán giấy màu trắng in chữ: "01 Bát sứ + 01 Đĩa sứ + 04 Quân vị + 02 lá bài tú lơ khơ + 01 dụng cụ bấm cắt quân vị”. Các mép hộp được dán giấy niêm phong và có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Hoàng Công T1 (bản gốc).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 giữa cơ quan Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Nguyễn Huy G, Nguyễn Đình L3, Nguyễn Văn T2, Hoàng Công T1, Vĩ Thúy P mỗi bị cáo phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/4/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND TP Sơn La (3);
  • - Chi cục THADS TP Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - UBND xã Tông Lạnh – Thuận Châu, Tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Sài Sơn – Quốc Oai, Thành phố Hà Nội.
  • - THAPT (10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Lê Lương Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về đánh bạc

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLST-HS, ngày 26/02/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger