Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày 06 tháng 3 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Nguyên Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Ông Đặng Trần Khoa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Châu Thị Kim Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 429/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Võ Tuấn K, sinh ngày 31/10/2000, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ E N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Xuân Quốc T, sinh năm 1969 và bà Ngô Thị Mỹ H, sinh năm 1968;

    Tiền án: Bản án số 228/2022/HS-ST ngày 02/8/2022 của Toà án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2024

    Tiền sự: Không;

    Bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024; bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N - Thuộc trại tạm giam Công an tỉnh K;

    Có mặt tại phiên tòa.

  2. Trần Gia H1, sinh ngày 05/9/2002, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: 4 N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc V, sinh năm 1977 và bà Phan Thị Ngọc H2, sinh năm 1977;

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024; bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N - Thuộc trại tạm giam Công an tỉnh K;

    Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lê Thế Đ, sinh ngày 01/5/2001

Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; Đã chết ngày 01/7/2024.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Quý P, sinh năm 1968;

Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn V1, sinh năm: 1972;

Nơi cư trú: Tổ A T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

  1. Ông Trần Thế V2, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: 1 Đồng Nai, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt tại phiên toà;
  2. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1983; Nơi cư trú: Tổ B H, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt tại phiên toà;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, Võ Tuấn K được Phạm Quang H3 (chưa rõ lai lịch) rủ đến khách sạn để quan hệ tình dục đồng tính, K đồng ý. Lúc này, K nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của H3 nên rủ Trần Gia H1 cùng đi để cướp tài sản, H1 đồng ý. K mang theo 01 dao bấm rồi điều khiển xe máy (chưa rõ biển kiểm soát) chở H1 đến khách sạn G, số F đường T, phường L, thành phố N. H3 dẫn cả hai vào phòng số 405. Khi vào phòng, K thấy Lê Thế Đ (là bạn của H3) đang nằm trên giường, trên cổ Đông có đeo 01 sợi dây chuyền vàng loại 61%, trọng lượng 0,1506 lượng và Đ đang cầm 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax. K nằm cùng Đ giả vờ hỏi chuyện rồi bất ngờ dùng tay trái giật sợi dây chuyền của Đ. Khi Đ bật người ngồi dậy, K tiếp tục giật lấy điện thoại trên tay Đ. Đông van xin K trả lại tài sản nhưng K không đồng ý. H1 xông đến dùng tay đấm 01 cái vào mặt Đ, còn K lấy dao bấm ra hướng về phía bụng của Đ doạ sẽ đâm nên Đ sợ không dám van xin. Sau đó, K lấy 01 túi xách của Đ đang để trên bàn rồi đưa dao bấm cho H1 để H1 tiếp tục đe doạ ngăn cản không cho Đ xin lại tài sản. K và H1 mang tài sản bỏ đi, khi đến tầng trệt của khách sạn, Đ chạy theo muốn lấy lại tài sản thì bị H1 ngăn cản. Sau đó cả hai điều khiển xe máy bỏ chạy.

Sau khi có được tài sản, K và H1 mang sợi dây chuyền vàng đến tiệm Q, số H đường B, phường V, thành phố N, bán cho anh Võ Văn V1 được 4.350.000 đồng; K chia cho H1 số tiền 2.000.000 đồng. Chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, K đăng bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) trên mạng Facebook với giá 5.000.000 đồng; K chia cho H1 số tiền 2.500.000 đồng.

Lê Thế Đ sau khi bị K và H1 cướp tài sản đã đến Cơ quan Công an trình báo, sau đó Đ gọi điện yêu cầu K trả lại tài sản. Do sợ bị phát hiện nên K đã liên hệ người đàn ông mà mình bán điện thoại để xin mua lại rồi hẹn Đông đến hẻm E L, phường N, thành phố N lại điện thoại Iphone 13 Promax cho Đ.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 310/KL-HĐĐGTS ngày 02/5/2024 (bút lục 40) và số 778/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2024 (bút lục 45) của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 256GB màu xanh, mua năm 2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 14.290.000 đồng (Mười bốn triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng); 01 sợi dây chuyền vàng loại 61%, trọng lượng 0,1506 lượng tại thời điểm ngày 25/4/2024 có giá trị 6.783.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng); đối với 01 túi da không có cơ sở để định giá.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSNT ngày 17 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố Võ Tuấn K và Trần Gia H1 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Trình bày luận tội, kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Tuấn K từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”;
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Gia H1 từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị Quý P1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn V1 không yêu cầu bồi thường nên không xét. Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên giải quyết theo quy định của pháp luật.

  • Bị cáo Võ Tuấn K thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị cáo Trần Gia H1 thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo; Bị hại; Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị Quý P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn V1; người làm chứng ông Trần Thế V2 và bà Huỳnh Thị L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Những người vắng mặt đều đã có lời khai ở Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; Căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà. Như vậy đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, khi được Phạm Quang H3 (chưa rõ lai lịch) rủ đến khách sạn để quan hệ tình dục đồng tính, Võ Tuấn K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên rủ Trần Gia H1 cùng đi. Khi đi, K mang theo 01 dao bấm rồi điều khiển xe máy (chưa rõ biển kiểm soát) chở H1 đến khách sạn G, số F đường T, phường L, thành phố N.

Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, tại phòng số 405 khách sạn G, Võ Tuấn K và Trần Gia H1 đã sử dụng vũ lực, phương tiện tấn công, đe doạ người bị hại để chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền vàng loại 61%, trọng lượng 0,1506 lượng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 256GB, 01 túi da của người bị hại với tổng giá trị là 21.073.000 đồng (Hai mươi mốt triệu không trăm bảy mươi ba nghìn đồng). Hành vi phạm tội của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy khi nảy sinh ý định chiếm đoạt, bị cáo Võ Tuấn K đã chuẩn bị 01 dao bấm mang theo. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo K đã sử dụng con dao này để đe dọa bị hại rồi đưa con dao cho bị cáo Trần Gia H1 để H1 tiếp tục đe dọa, ngăn cản việc bị hại xin lại tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc vào tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “Sử dụng phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản, sức khỏe của người bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ; gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Võ Tuấn K là người rủ rê, chuẩn bị hung khí phạm tội và cũng là người thực hành tích cực. Bị cáo Trần Gia H1 là đồng phạm, là người thực hành tích cực khi thực hiện tội phạm. Như vậy, vai trò của các bị cáo là như nhau. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt tù và cách ly các bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo K vừa mới chấp hành hình phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi gây án đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại có đơn xin bãi nại. Từ các căn cứ nói trên, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo. Đối với bị cáo Trần Gia H1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự

Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị Quý P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn V1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đều xác nhận đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án:

01 (một) dao bấm màu đen dài khoảng 20cm là công cụ thực hiện tội phạm, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra, bị cáo H1 đã tự nguyện nộp lại số tiền 500.000 đồng. Đây là tài sản do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên Phạm Quang H3 hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ căn cứ thì xem xét xử lý sau.

Đối với Võ Văn V1 là người mua điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax nhưng không biết đây là tài sản do Võ Tuấn K và Trần Gia H1 phạm tội mà có nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo Võ Tuấn K và Trần Gia H1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt
    • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Tuấn K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/4/2024.
    • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Gia H1 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/4/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao bấm màu đen (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
    • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Theo Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số CT: 27707603 20/11/2024 do Kho bạc nhà nước K1 ban hành).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

    Các bị cáo Võ Tuấn K, Trần Gia H1, mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP Nha Trang;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục THADS TP Nha Trang;
  • - UBND xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Nha Trang;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Nguyên Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về cướp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Võ Tuấn K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản” ử phạt bị cáo Trần Gia H1 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger