Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày 05 tháng 6 năm 2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Ninhbà Phạm Thị Mơ.

- Thư ký phiên toà: Bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên toà: Ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 18/2025/HSST-QĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số nhà C, phố H, tổ I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình P và bà Nguyễn Thị G; có chồng là Nguyễn Đức Đ và 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không. Đặc điểm nhân thân: Ngày 02/02/1994 Công an huyện T, thành phố Hà Nội lập danh bản số 1727, xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân". Ngày 18/5/2000 Công an huyện T, tỉnh Nam Định lập danh bản số 01, xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân". Ngày 15/9/2005 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản", chấp hành xong bản án ngày 15/12/2006. Ngày 28/12/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản", chấp hành xong bản án ngày 28/10/2008. Ngày 23/12/2016 bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Tòa án nhân dân quận Tây Hồ nhận định, tại bản án số 133/HSST ngày 28/12/2007 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 10 tháng tù giam nhưng chưa thi hành án. Đây là lỗi của Cơ quan tiến hành tố tụng nên tiền án này đương nhiên được xóa án tích. Ngày 05/5/2020 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử 09 tháng 17 ngày tù giam về tội “Cướp giật tài sản", chấp hành xong bản án ngày 22/2/2021. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 21/3/2024 chuyển tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 08/6/2024. Áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 08/6/2024 đến ngày 14/6/2024 tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc từ ngày 14/6/2024 đến ngày 12/3/2025 tại V. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại điện của bị cáo Nguyễn Thị T: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1980 (Là em ruột của bị cáo); nơi cư trú: Số nhà A, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; có mặt.

- Bị hại: Ông Trương Mạnh C, sinh năm 1949 (đã chết); người đại diệp hợp pháp của bị hại là chị Trương Thị H, sinh năm 1971 (Là con gái ông C); nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • 1. Ông Đồng Văn T1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; có mặt.
  • 2. Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số nhà A, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, trú tại: Số nhà C phố H, tổ I, phường Đ, thành phố T đi từ nhà đến thành phố N để gặp Đồng Văn T1, sinh năm 1960, trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (như đã hẹn trước vào ngày 07/3/2024). Sau khi gặp nhau, T gửi xe mô tô tại một nhà dân ở gần Bệnh viện rồi T1 điều khiển xe mô tô BKS 29B2-226.71 chở T đi theo hướng Nam Định - Hà Nam. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, T1 và T đi ngang qua nhà ông Trương Mạnh C, sinh năm 1949; trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, thì T bảo T1 dừng xe ở đường để T vào mua phong bì, rồi một mình đi bộ vào trong nhà ông C hỏi mua thuốc để phun cho cây đậu quả nhưng ông C bảo không có. Sau đó, T nhờ ông C đổi cho 500.000 đồng tiền lẻ thành tiền chẵn, ông C đồng ý. T đi theo ông C vào phía trong nhà, đưa cho ông C 05 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng, ông C mở tủ quần áo lấy 01 quyển sổ (dạng sổ học sinh) bên trong có kẹp số tiền 27.000.000 đồng là tiền bán hàng của ông C. Ông C lấy 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và đưa cho T. Sau đó, T hỏi mua của ông C 01 chiếc phong bì và đưa 2.000 đồng cho ông C, ông C quay lưng đi lấy phong bì thì lúc này quyển sổ có tiền của ông C đang được để trên mặt bàn gần chỗ T đứng, nên T nảy sinh ý định trộm cắp số tiền trong quyển sổ, liền dùng tay phải cầm 01 nắm tiền rồi cho vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Ông C đưa phong bì cho T, Thủy cầm rồi đi ra khỏi nhà ông C, lên xe của T1 đi về thành phố N. Sau đó, ông C vào kiểm tra lại và phát hiện bị mất tiền. Số tiền còn lại trong quyển sổ là 4.500.000 đồng, số tiền 500.000 đồng đối tượng đưa cho ông C để ở bàn còn lại tổng là 5.000.000 đồng, số tiền ông C bị mất là 22.000.000 đồng. Trên đường đi về, T bảo T1 dừng lại để đi vệ sinh ở ven đường, lúc này T kiểm tra trong túi áo không thấy số tiền đã trộm cắp được nên nghĩ rằng tiền đã bị rơi trên đường về. Sau đó, T1 chở T về chỗ gửi xe để lấy xe, tại đây T đưa cho T1 khoảng hơn 1.000.000 đồng từ tiền cá nhân của T rồi cả 2 về nhà.

Ngày 09/3/2024, ông Trương Mạnh C đã đến Công an huyện T trình báo sự việc, sau khi tiếp nhận đơn trình báo Cơ quan CSĐT - Công an huyện T áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, xác định Nguyễn Thị T và Đồng Văn T1 có liên quan đến sự việc trên nên tiến hành triệu tập, đấu tranh làm rõ. Tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện T, Nguyễn Thị T đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.

Ngày 12/3/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Thị T tại số nhà C, phố H, tổ I, phường Đ, thành phố T, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Quá trình điều tra ông Trương Mạnh C do tuổi cao sức yếu và mắc bệnh hiểm nghèo đã chết vào ngày 04/5/2024. Gia đình ông C đã ủy quyền cho con đẻ của ông C là chị Trương Thị H, sinh năm 1971, trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam đại diện cho gia đình giải quyết các vấn đề hình sự và vấn đề dân sự trong vụ án.

Quá trình điều tra, do nghi ngờ tình trạng bệnh tâm thần của Nguyễn Thị T Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu V giám định tình trạng tâm thần của T trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 08/3/2024.

Ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu V giám định tình trạng tâm thần của Nguyễn Thị T. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 156/KLGĐ ngày 07/6/2024 của V kết luận:

"Trước, trong khi xảy ra vụ việc và tại thời điểm giám định, bị can Nguyễn Thị T bị bệnh Rối loạn phân liệt cảm xúc loại hỗn hợp. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F25.2

- Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bệnh ở giai đoạn thuyên giảm, bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

- Tại thời điểm giám định bệnh ở giai đoạn tiến triển, bị can mất khả năng nhận thức và điều khiến hành vi."

Xét đề nghị của Cơ quan CSĐT - Công an huyện T, ngày 14/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Thị T.

Ngày 21/02/2025 V có Công văn số 728/PT thông báo về việc bệnh tâm thần của Nguyễn Thị T ở giai đoạn ổn định, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Ngày 23/02/2025, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu V giám định tình trạng bệnh tâm thần của Nguyễn Thị T sau thời gian chữa bệnh bắt buộc.

Tại Bản kết luận giám định sức khỏe tâm thần sau điều trị bắt buộc chữa bệnh số 12/KLGÐSKTT-SBBCB ngày 24/02/2025 của V kết luận: "Hiện tại (tại thời điểm giám định) bệnh nhân Nguyễn Thị T bị bệnh Rồi loạn phân liệt cảm xúc loại hỗn hợp, bệnh ở giai đoạn khỏi bệnh (F25.2). Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh".

Trên cơ sở đề nghị của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã ra Quyết định số 01/QĐ-VKSTL ngày 07/3/2025 đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Thị T.

* Về vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, đã qua sử dụng là T mượn của em gái là chị Nguyễn Thị O, bên trong có lắp hai sim đều đăng ký chính chủ tên chị Nguyễn Thị O.
  • - Nguyễn Thị T tự nguyện giao nộp số tiền 22.000.000 đồng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra để khắc phục hậu quả.
  • - Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen, đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu xanh đen, BKS 29B2-226.71; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Phạm Văn L và số tiền 2.032.000 đồng là tài sản cá nhân của ông Đồng Văn T1.
  • - 01 quyển sổ dạng học sinh màu xanh trắng có kích thước (25 x 17) cm, bên trong ghi chép số liệu nhập hàng, loại thuốc thú y và 01 quyển sổ màu vàng nâu, kích thước (25 x 17) cm, bên trong ghi chép số liệu nhập hàng, loại thức ăn chăn nuôi do bà Đinh Thị D tự nguyện giao nộp.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, chị Trương Thị H đề nghị Nguyễn Thị T trả lại số tiền 22.000.000 đồng đã trộm cắp của ông C.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-SH ngày 05/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, q và s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến ngày 08/6/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền đã chiếm đoạt của bị hại. Trong giai đoạn điều tra Nguyễn Thị T đã tự nguyện nộp lại số tiền 22.000.000 đồng để trả lại cho bị hại, do đó cần trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền bị cáo đã nộp để khắc phục.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho chị Nguyễn Thị O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen; trả lại cho ông Đồng Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen; 01 xe mô tô BKS 29B2-226.71 kèm theo giấy tờ xe, xe gắn máy mang tên Phạm Văn L và số tiền 2.032.000 đồng; đối với 01 quyển sổ dạng học sinh màu xanh trắng có kích thước (25 x 17) cm và 01 quyển sổ màu vàng nâu, kích thước (25 x 17) cm cần lưu kèm hồ sơ vụ án.

- Bị cáo Nguyễn Thị T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người đại điện của bị cáo đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị O có quan điểm nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã trình bày, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hiện tại sức khoẻ bị cáo không được ổn định.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trương Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 22.000.000 đồng đã chiếm đoạt của ông C và có ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đồng Văn T1 nhất trí quan điểm đại điện Viện kiểm sát đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở xác định: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, tại nhà của ông Trương Mạnh C, sinh năm 1949; địa chỉ tại: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, lợi dụng sở hở trong quản lý tài sản của ông C, Nguyễn Thị T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 22.000.000 đồng của ông C.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tương ứng tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính nhiều lần về hành vi xâm phạm sở hữu và cũng đã bị xét xử nhiều lần về hành vi xâm phạm sở hữu của công dân như phần lý lịch bị cáo đã thể hiện.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “tự nguyện khắc phục hậu quả”, bị cáo là “người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi” nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, q và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại có quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính:

- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả cho bị hại số tiền đã chiếm hưởng. Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 22.000.000 để khắc phục hậu quả. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, đã qua sử dụng là T mượn của em gái là chị Nguyễn Thị O bên trong có lắp hai sim đều đăng ký chính chủ tên chị Nguyễn Thị O, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị O.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu xanh đen, BKS 29B2-226.71; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Phạm Văn L và số tiền 2.032.000 đồng là tài sản cá nhân của ông Đồng Văn T1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông T1.

- Đối với 01 quyển sổ dạng học sinh màu xanh trắng có kích thước (25 x 17) cm, và 01 quyển sổ màu vàng nâu, kích thước (25 x 17) cm do bà Đinh Thị D giao nộp hộ ông ông C, không có nhu cầu nhận lại, nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

[9] Về tình tiết khác: Tài liệu điều tra xác định ông Đồng Văn T1 không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Thị T. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 50; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106; các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. 1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 12/3/2024 đến ngày 08/6/2024).

    - Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. 3. Về xử lý vật chứng:
    • - Trả cho bà Trương Thị H là người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 22.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra.
    • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị O 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, đã qua sử dụng;
    • - Trả lại cho ông Đồng Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 130, màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu xanh đen, BKS 29B2-226.71; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Phạm Văn L và số tiền 2.032.000 đồng.
    • - Lưu kèm hồ sơ vụ án 01 quyển sổ dạng học sinh màu xanh trắng có kích thước (25 x 17) cm, và 01 quyển sổ màu vàng nâu, kích thước (25 x 17) cm.

      (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam; Uỷ nhiệm chi số 518 lập ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại Phòng G1 - Kho bạc Nhà nước khu vực IV).

  4. 4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND huyện Thanh Liêm;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng Cảnh sát THAHS và HTTP Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Cổng Thông tin điện tử của Tòa án;
  • - Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND phường Đề Thám, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Văn Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, tại nhà của ông Trương Mạnh C, sinh năm 1949; địa chỉ tại: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, lợi dụng sở hở trong quản lý tài sản của ông C, Nguyễn Thị T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 22.000.000 đồng của ông C.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger