Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 50/2025/HS-ST

Ngày 05/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Trung Sơn

Ông Nguyễn Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Văn Em - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 5 và 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384/2025/QĐXXST-HS ngày 08/5/2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu T, (tên gọi khác: Thiện Á), sinh ngày 02/9/1983, tại tỉnh Tiền Giang; CCCD: [...]; Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L (Đã chết) và bà Cao Thị S, sinh năm 1937; Anh, chị, em ruột có 08 người, bị cáo là con út trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1983, có hai người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;

    Đặc điểm nhân thân: Từ nhỏ sống chung với gia đình tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, học đến lớp 12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2024. (Bị cáo có mặt).

  2. Lê Văn Q, sinh ngày 29/10/1993, tại tỉnh Tiền Giang; CCCD: [...]; Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Gang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955; Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con út trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Đặc điểm nhân thân: Từ nhỏ sống chung với gia đình tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, học đến lớp 7 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2024. (Bị cáo có mặt).

  3. Trần Văn Phú C1, sinh ngày 19/7/1998, tại Tiền Giang; CCCD: [...]. Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu M, sinh năm 1976 và bà Đào Ngọc N1, sinh năm 1977; Anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Đặc điểm nhân thân: Từ nhỏ sống chung với gia đình tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, học hết lớp 9 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2024. (Bị cáo có mặt).

Những người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1983 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  2. Anh Cao Anh T1, sinh năm 1972 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  3. Bà Lý Thị M1, sinh năm 1966 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  4. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  5. Anh Huỳnh Văn Đ1, sinh năm 1979 (có mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  6. Anh Đặng Văn Ú, sinh năm 1986 (có mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  7. Ông Lê Văn R, sinh năm 1967 (có mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  8. Anh Nguyễn Thành D, sinh năm 1990 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  9. Bà Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1959 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  10. Anh Trương Văn N2, sinh năm 1974 (có mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  11. Chị Đặng Thị O, sinh năm 1981 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  12. Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1988 (có mặt). Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  13. Chị Trần Thị T3, sinh năm 1980 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  14. Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1996 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 28/12/2023, do muốn có tiền tiêu xài nên Nguyễn Hữu T nảy sinh ý định tổ chức đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền để thu tiền bão từ người làm cái, T rủ Lê Văn Q cùng tổ chức điểm lắc tài xỉu và thỏa thuận T hưởng 06 phần, Quyền hưởng 04 phần lợi nhuận sau khi trừ chi phí, Q đồng ý.

Để phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc, Nguyễn Hữu T thuê và phân công Trần Văn P1 Cường làm nhiệm vụ canh gác ngoài cổng rào cách tụ điểm đánh bạc 150m, chỉ dẫn người đánh bạc vào tụ điểm đánh bạc đồng thời mua đồ ăn, nước uống theo yêu cầu của người chơi, T trả cho C1 từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày, T, Q và C1 bắt đầu tổ chức điểm lắc tài xỉu từ ngày 28/12/2023 đến ngày 04/01/2024 tại phần đất vườn của T quản lý ở ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Cách thức tổ chức lắc tài xỉu và thu tiền như sau: Thiện điện thoại rủ người chơi và chỉ đường đến tụ điểm, T và Q thường xuyên có mặt tại điểm đánh bạc để thu tiền bão từ người làm cái, đến cuối ngày chia nhau theo thỏa thuận. Trong những người tham gia đánh bạc, nếu ai muốn làm cái thì thông báo cho Q biết để được làm cái, nếu người làm cái lắc được kết quả 03 hạt xí ngầu cùng một mặt số thì người làm cái thắng toàn bộ ván đó, người làm cái phải trả cho Q phân nửa (1/2) số tiền thắng ván đó gọi là tiền “bão”.

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 04/01/2024, Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q và Trần Văn Phú C1 đã tổ chức cho 13 người tham gia đánh bạc gồm: Cao Anh T1, sinh năm 1972, thường trú ấp H, xã H, huyện C; Lý Thị M1, sinh năm 1966, thường trú ấp H, xã H, huyện C; Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999, thường trú ấp C, xã T, huyện C; Huỳnh Văn Đ1, sinh năm 1979, thường trú ấp M, xã T, huyện C; Đặng Văn Ú, sinh năm 1986, thường trú ấp M, xã T, huyện C; Lê Văn R, sinh năm 1967, thường trú ấp M, xã T, huyện C; Nguyễn Thành D, sinh năm 1990, thường trú ấp H, xã H, huyện C; Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1959, thường trú ấp H, xã H, huyện C; Đặng Thị O, sinh năm 1981, thường trú ấp M, xã M, huyện C; Trương Văn N2, sinh năm 1974, thường trú ấp M, xã T, huyện C; Nguyễn Minh P, sinh năm 1988, thường trú ấp H, xã H, huyện C; Trần Thị T3, sinh năm 1980, thường trú ấp A, xã A, huyện C; Nguyễn Văn L1, sinh năm 1996, thường trú ấp M, xã T, huyện C, trong đó Cao Anh T1 là người làm cái đầu tiên và Lý Thị M1 làm vĩ, cụ thể như sau:

Cao Anh T1 và Lý Thị M1 đem theo số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc, T1 làm cái, M1 làm vĩ, T1 đang lắc thì bị Công an đến kiểm tra phát hiện, nên số tiền đánh bạc của T1 và M1 là 4.000.000 đồng. Trong ca lắc của T1 có một lần bão được 800.000 đồng, T1 đưa tiền cho Q là 400.000 đồng và cho M1 50.000 đồng.

Nguyễn Văn T2 đem theo số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, ván thứ nhất đặt cược 150.000 đồng, ván thứ hai đặt cược 150.000 đồng, kết quả thua 02 ván nên tổng số tiền Trắng tham gia đánh bạc là 300.000 đồng.

Huỳnh Văn Đ1 đem theo số tiền 400.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, ván thứ nhất đặt cược 200.000 đồng kết quả thua, ván thứ hai đặt cược 200.000 đồng, chưa có kết quả thắng thua thì bị Công an vào kiểm tra bắt quả tang nên tổng số tiền của Đ1 tham gia đánh bạc là 400.000 đồng.

Đặng Văn Ú đem theo số tiền 900.000 đồng để đánh bạc, tham đặt cược 02 ván, ván thứ nhất đặt cược 50.000 đồng, ván thứ hai đặt cược 50.000 đồng, kết quả thắng 01 ván và thua 01 ván nên số tiền Ú tham gia đánh bạc là 900.000 đồng.

Lê Văn R đem theo số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, tham đặt cược 03 ván, mỗi ván 50.000 đồng, kết quả thắng 02 ván và thua 01 ván, nên số tiền tham gia đánh bạc của R là 100.000 đồng.

Nguyễn Thành D đem theo số tiền 800.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 09 ván, mỗi ván đặt cược 100.000 đồng, kết quả thua 800.000 đồng nên số tiền đánh bạc của D là 800.000 đồng.

Đặng Thị O đem theo số tiền 600.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, ván thứ nhất đặt cược 100.000 đồng kết quả thua, ván thứ hai đặt cược 200.000 đồng nhưng chưa có kết quả thắng thua thì bị Công an vào bắt quả tang nên số tiền đánh bạc của O là 600.000 đồng.

Nguyễn Thị B1 Ba đem theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 06 ván, 04 ván đặt cược 100.000 đồng, 02 ván đặt cược 200.000 đồng, kết quả thua 06 ván nên số tiền đánh bạc của Bé Ba là 1.000.000 đồng.

Trương Văn N2 đem theo số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, N2 tham gia chơi 10 ván, 05 ván đặt cược 50.000 đồng, 05 ván đặt cược 100.000 đồng, kết quả có ván thắng ván thua nhưng ăn được 300.000 đồng nên số tiền đánh bạc của N2 là 400.000 đồng.

Nguyễn Minh P đem theo số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, ván thứ nhất đặt cược 200.000 đồng, ván thứ hai đặt cược 300.000 đồng, kết quả thua 02 ván nên số tiền đánh bạc của P là 500.000 đồng.

Trần Thị T3 đem theo số tiền 150.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 03 ván, ván thứ nhất đặt cược 50.000 đồng, ván thứ hai đặt cược 100.000 đồng, ván thứ ba đặt cược 100.000 đồng, kết quả có ván thắng ván thua nhưng ăn được 50.000 đồng nên số tiền đánh bạc của T3 là 200.000 đồng.

Nguyễn Văn L1 đem theo số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 03 ván, ván thứ nhất và ván thứ hai đặt cược 50.000 đồng, ván thứ ba đặt cược 100.000 đồng, kết quả thua 03 ván nên số tiền đánh bạc của L1 là 200.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q và Trần Văn Phú C1 tổ chức đánh bạc trong ngày 04/01/2024 là 9.400.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, trong khi Cao Anh T1 vẫn còn đang làm cái, Lý Thị M1 đang làm vĩ, những người tham gia đánh bạc đã đặt cược ván chơi nhưng chưa có kết quả thắng thua thì bị Phòng C2 Công an tỉnh T phối hợp với Đ2 Công an huyện C kiểm tra phát hiện, tạm giữ các vật chứng có liên quan đến việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q và Trần Văn P1 C1 thừa nhận hành vi như đã nêu trên. Ngoài ra, T, Q và C1 còn khai nhận ngoài lần tổ chức đánh bạc ngày 04/01/2024, thì từ ngày 28/12/2023 đến 03/01/2024, T cùng với Q và C1 còn nhiều lần tổ chức đánh bạc tại đất vườn do T quản lý nhưng không nhớ họ tên và địa chỉ của những người tham gia đánh bạc. Quá trình điều tra xác định Cao Anh T1 có tham gia đánh bạc ở tụ điểm đánh bạc do các bị cáo T, Q và C1 tổ chức ngày 28/12/2023 đến ngày 04/01/2024, T đã thu được 1.750.000 đồng, Quyền thu được 1.650.000 đồng và C1 thu được 1.000.000 đồng.

Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q và Trần Văn Phú C1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q và Trần Văn Phú C1 có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

01 tấm giấy có ghi chữ “T”, “X” và các con số; 03 hột xí ngầu; 02 dĩa sứ màu trắng; 02 hộp nhựa hình trụ màu đen; 22 lá bài tây; 01 quyển tập; 01 tấm chiếu màu đỏ xanh, vàng; tiền Việt Nam trên chiếu bạc 2.350.000 đồng.

Kiểm tra khu vực xung quanh chiếu bạc, phát hiện tạm giữ 20 xe mô tô gồm: 01 xe mô tô biển số 63B2 - 040.68; 01 xe mô tô loại Visson (không biển số); 01 xe mô tô biển số 54H3 - 2607; 01 xe mô tô biển số 65H2 - 8070; 01 xe mô tô biển số 59L2 - 672.90; 01 xe mô tô biển số 63D1 - 389.43; 01 xe mô tô biển số 50L2 - 466.28; 01 xe mô tô biển số 63B1 - 274.86; 01 xe mô tô biển số 63B1 - 777.89; 01 xe mô tô biển số 63D1 - 9258; 01 xe mô tô biển số 72K1 - 639.49; 01 xe mô tô biển số 53P2 - 6388; 01 xe mô tô biển số 63V1 - 3388; 01 xe mô tô biển số 66P1 - 656.50; 01 xe mô tô biển số 66M1 - 275.23; 01 xe mô tô biển số 63B1 - 474.67; 01 xe mô tô biển số 63B2 - 015.28; 01 xe mô tô biển số 63C1 - 394.65; 01 xe mô tô biển số 66MA - 009.33; 01 xe mô tô biển số 63B1 - 803.35.

Tạm giữ trên người của các bị cáo và người liên quan:

  • Nguyễn Hữu T: Tiền Việt Nam 4.200.000 đồng, 01 điện thoại di động N4 màu đen.
  • Trần Văn Phú C1: Tiền Việt Nam 30.400.000 đồng, 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone XS Max, 01 điện thoại Oppo.
  • Cao Anh T1: Tiền Việt Nam 400.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen.
  • Trần Tuấn K: 01 điện thoại di động hiệu ViVo.
  • Nguyễn Minh P: 01 điện thoại Nokia.
  • Đặng Văn Ú: Tiền Việt Nam 900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7.
  • Nguyễn Minh K1: Tiền Việt Nam 700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
  • Nguyễn Thành D: Tiền Việt Nam 400.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Masel; 01 điện thoại di động hiệu ViVo.
  • Huỳnh Văn Đ1: Tiền Việt Nam 1.800.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A33.
  • Lý Minh T4: Tiền Việt Nam 800.000 đồng.
  • Nguyễn Văn L1: 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
  • Trương Văn N2: Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng.
  • Lê Văn R: Tiền Việt Nam 1.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Itel.
  • Nguyễn Văn T2: 01 điện thoại di động hiệu ViVo.
  • Đặng Thị O: Tiền Việt Nam 4.000.000 đồng; 01 điện thoại Oppo.
  • Lý Thị Thảo Q1: 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
  • Trần Thị T3: Tiền Việt Nam 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A54.
  • Nguyễn Thị Bé B: Tiền Việt Nam 4.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu N4.
  • Lý Thị M1: Tiền Việt Nam 50.000 đồng là tiền từ việc đánh bạc.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã giao nộp số tiền thu lợi bất chính, cụ thể: Nguyễn Hữu T nộp 1.750.000 đồng, Lê Văn Q nộp 1.650.000 đồng, Trần Văn Phú C1 nộp 1.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chủ sở hữu và tịch thu tang vật vi phạm hành chính các tài sản nêu trên.

Đối với các xe mô tô xe mô tô biển số 54H3 - 2607; xe mô tô biển số 65H2-8070; xe mô tô biển số 72K1-639.49; xe mô tô biển số 53P2-6388; xe mô tô biển số 66MA-009.33 do chưa xác minh, làm rõ được nguồn gốc nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ, sẽ xử lý sau.

Hiện Cơ quan điều tra còn tạm giữ:

01 tấm giấy có ghi chứ “T, X” và các con số; 03 hạt xí ngầu; 02 dĩa sứ màu trắng; 02 hộp nhựa hình trụ màu đen; 22 lá bài tây; 01 quyền tập; 01 tấm chiếu màu đỏ xanh, vàng; Tiền Việt Nam 2.350.000 đồng trên chiếu bạc.

Tiền Việt Nam 31.400.000 đồng, trong đó 1.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc, 30.400.000 đồng là tiền cá nhân của Trần Văn Phú C1, 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max.

Tiền Việt Nam 5.950.000 đồng, trong đó 1.750.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc, 4.200.000 đồng là tiền cá nhân của Nguyễn Hữu T, 01 điện thoại Nokia.

Tiền Việt Nam 1.650.000 đồng tiền thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc của bị can Lê Văn Q.

Tại cáo trạng số 95/CT-VKSCB, ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tuy tố Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q, Trần Văn Phú C1 về tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đề nghị:

Áp dụng điểm a, b, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Áp dụng điểm a, b, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Q mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Áp dụng điểm a, b, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Phú C1 mức hình phạt từ từ 12 đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 01 – T, C1” có chữ ký của Nguyễn Hữu T, Trần Văn Phú C1, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện C bên trong chứa 2.350.000 đồng là tiền trên chiếu bạc nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 03 – Quyền” có chữ ký của Lê Văn Q, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện C bên trong chứa 1.650.000 đồng tiền thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc của Quyền giao nộp nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 02 – Cường” có chữ ký của Trần Văn Phú C1, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện C bên trong chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, 01 điện thoại di động hiệu Oppo và số tiền 31.400.000 đồng, trong đó 1.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc, 01 điện thoại di động hiệu Oppo dùng vào việc liên hệ để tổ chức đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 4” có chữ ký của Nguyễn Hữu T bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện C bên trong chứa 5.950.000 đồng, trong đó 1.750.000 đồng giao nộp là tiền thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc; 01 điện thoại Nokia là dùng để liên lạc rủ rê các con bạc nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy:

01 tấm giấy có ghi chứ “T, X” và các con số; 03 hạt xí ngầu; 02 dĩa sứ màu trắng; 02 hộp nhựa hình trụ màu đen; 22 lá bài tây; 01 quyền tập; 01 tấm chiếu màu đỏ xanh, vàng.

Trao trả lại cho bị cáo C1 phong bì niêm phong ký hiệu “Gói số 2” có chữ ký của Trần Văn Phú C1, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của CQĐT Công an huyện C, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max và số tiền 30.400.000 đồng.

Trao trả lại cho bị cáo T phong bì niêm phong ký hiệu “Gói số 4” có chữ ký của Nguyễn Hữu T, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của CQĐT Công an huyện C, bên trong có số tiền 4.200.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng những người này vắng mặt, tuy nhiên trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q và Trần Văn Phú C1 thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, không oan sai. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, vật chứng thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 28/12/2023 đến ngày 04/01/2024, tại phần đất vườn của Nguyễn Hữu T quản lý ở ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Hữu T cùng với Lê Văn Q thuê và phân công Trần Văn P1 C1 làm nhiệm vụ canh gác, phục vụ tổ chức đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền. Ngày 04/01/2024, Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q và Trần Văn Phú C1 đã tổ chức cho 13 người đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 9.400.000 đồng. Trong thời gian từ ngày 28/12/2023 đến ngày 04/01/2024 T thu lợi bất chính số tiền 1.750.000 đồng, Q thu lợi bất chính số tiền 1.650.000 đồng, C1 thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm an toàn trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh ở địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức được hành vi tổ chức đánh thắng thua bằng tiền là bị pháp luật nghiêm cấm nếu vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

[4] Trong vụ án này T có vai trò là người khởi xướng, cùng với Q sử dụng phần đất của T quản lý để tổ chức đánh bạc thu tiền xâu, T thuê C1 canh gác và mở cửa cổng để cho các con bạc vào tụ điểm đánh bạc. Đồng thời, bị cáo là người trực tiếp liên hệ với các con bạc đến tham gia đánh bạc và chuẩn bị sẵn các dụng cụ để đánh bạc như: 01 tấm giấy có ghi chứ “T, X” và các con số; 03 hạt xí ngầu; 02 dĩa sứ màu trắng; 02 hộp nhựa hình trụ màu đen; 22 lá bài tây; 01 quyền tập; 01 tấm chiếu màu đỏ xanh, vàng, bị cáo cùng Q vào xòng tài xỉu để thu tiền bão. Từ ngày 28/12/2023 đến ngày 04/01/2024, T cùng với Q và C1 tổ chức cho các đối tượng tham gia đánh bạc, thu lợi bất chính số tiền 1.750.000 đồng. Đến ngày 04/01/2024 bị cáo tiếp tục cùng với các bị cáo trên tổ chức cho 13 người tham gia đánh bạc, với tổng số tiền là 9.400.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nên bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn đối với các bị cáo còn lại. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự đồng thời là lao động chính trong gia đình, bị cáo bị bệnh đau ngực không điển hình, rối loạn chuyển hóa Lipit, bệnh tim mạch mạn tính. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Q cùng với bị cáo T tổ chức điểm lắc tài xỉu, trải bạc coi xòng tài xỉu cùng và là người trực tiếp thu tiền bão từ các con bạc. Từ ngày 28/12/2023 đến ngày 04/01/2024, Q cùng với T và C1 tổ chức cho các đối tượng tham gia đánh bạc, thu lợi bất chính với số tiền 1.650.000 đồng. Đến ngày 04/01/2024 bị cáo tiếp tục cùng với các bị cáo trên tổ chức cho 13 người tham gia đánh bạc, với tổng số tiền là 9.400.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nên cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, mức hình phạt của bị cáo nhẹ hơn bị cáo T nhưng sẽ cao hơn bị cáo C1. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự đồng thời là lao động chính trong gia đình, bị cáo có ông nội là Lê Văn T5 được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng 3 và trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo C1 có vai trò người giúp sức cho bị cáo T và Q trong việc tổ chức đánh bạc là đồng phạm giản đơn, bị cáo phục vụ làm nước uống và thức ăn cho những người đánh bạc nếu có yêu cầu, cảnh giới với mục đích khi phát hiện có Công an sẽ điện thoại thông báo cho T và Q biết để giải tán tụ điểm đánh bạc nên cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Từ ngày 28/12/2023 đến ngày 04/01/2024, bị cáo giúp sức cho T và Q tổ chức cho các đối tượng tham gia đánh bạc, thu lợi bất chính với số tiền 1.000.000 đồng. Đến ngày 04/01/2024 bị cáo giúp sức cho các bị cáo trên tổ chức cho 13 người tham gia đánh bạc, với tổng số tiền là 9.400.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét thấy, trong vụ án này các bị cáo phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn, số tiền các bị cáo tổ chức đánh bạc và khoản lợi thu được từ hành vi phạm tội không lớn, các bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[6] Đối với Cao Anh T1, Lý Thị M1, Nguyễn Văn T2, Huỳnh Văn Đ1, Đặng Văn Ú, Lê Văn R, Nguyễn Thành D, Nguyễn Thị Bé B, Đặng Thị O, Trương Văn N2, Nguyễn Minh P, Trần Thị T3 và Nguyễn Văn L1 tham gia đánh bạc. Xét thấy, những người này có dấu hiệu phạm tội đánh bạc và Tòa án đã có trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng không truy tố, do đó kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Đối với Nguyễn Thị N, vợ của Nguyễn Hữu T không biết việc T tổ chức đánh bạc thắng thua bằng tiền và không có hành vi giúp sức, không tham gia cùng với T thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, Cơ quan điều tra không có chứng cứ chứng minh N là đồng phạm trong vụ án, do đó Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với N.

[8] Ngày 04/01/2024, khi lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, tại tụ điểm đánh bạc còn có Lê Minh T6, sinh năm 1986, thường trú ấp M, xã H, huyện C; Nguyễn Minh K1, sinh năm 1993, thường trú ấp H, xã H, huyện C; Trịnh Tuấn K2, sinh năm 1976, thường trú ấp M, xã M, huyện C; Lê Phước V, sinh năm 1995, thường trú khu B, thị trấn C, huyện C; Lý Minh L2, sinh năm 2002, thường trú ấp H, xã H, huyện C; Lý Thị Thảo Q1, sinh năm 1996, thường trú ấp H, xã H, huyện C. Quá trình điều tra xác định những người này không tham gia đánh bạc, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 2.350.000 đồng là tiền trên chiếu bạc; Số tiền 1.650.000 đồng là tiền thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc của Q giao nộp; Số tiền 1.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc, 01 điện thoại di động hiệu Oppo dùng vào việc liên hệ để tổ chức đánh bạc; Số tiền 1.750.000 đồng là tiền thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc; 01 điện thoại Nokia là dùng để liên lạc rủ rê các con bạc nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 tấm giấy có ghi chứ “T, X” và các con số; 03 hạt xí ngầu; 02 dĩa sứ màu trắng; 02 hộp nhựa hình trụ màu đen; 22 lá bài tây; 01 quyền tập; 01 tấm chiếu màu đỏ xanh, vàng là dụng cụ sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 30.400.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max đây là tài sản cá nhân của bị cáo C1 nên trả lại cho bị cáo. Số tiền 4.200.000 đồng đây là tài sản cá nhân của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo.

[10] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè về tội danh, khung hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Tuy nhiên, hình phạt tù đối với các bị cáo là không cần thiết mà xử phạt tiền bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

[11] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a, b, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

  2. Căn cứ điểm a, b, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt tiền 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng).

  3. Căn cứ điểm a, b, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn Phú C1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt tiền 40.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

  4. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 01 - T, C1” có chữ ký của Nguyễn Hữu T, Trần Văn Phú C1, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bên trong chứa 2.350.000đ (Hai triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng); 01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 03 - Quyền” có chữ ký của Lê Văn Q, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bên trong chứa 1.650.000đ (Một triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng); 01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 02 - Cường” có chữ ký của Trần Văn Phú C1, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bên trong chứa 01 điện thoại di động hiệu Oppo và 1.000.000đ (Một triệu đồng); 01 phong bì niêm phong ký hiệu “GÓI SỐ 4” có chữ ký của Nguyễn Hữu T bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bên trong chứa 1.750.000đ (Một triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng), 01 điện thoại N4.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm giấy có ghi chứ “T, X” và các con số; 03 hạt xí ngầu; 02 dĩa sứ màu trắng; 02 hộp nhựa hình trụ màu đen; 22 lá bài tây; 01 quyền tập; 01 tấm chiếu màu đỏ xanh, vàng.

    Trao trả lại cho bị cáo Trần Văn P1 C1 phong bì niêm phong ký hiệu “Gói số 2” có chữ ký của Trần Văn Phú C1, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max và số tiền 30.400.000đ (Ba mươi triệu, bốn trăm nghìn đồng).

    Trao trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu T phong bì niêm phong ký hiệu “Gói số 4” có chữ ký của Nguyễn Hữu T, bên ngoài phong bì có đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bên trong có 4.200.000đ (Bốn triệu, hai trăm nghìn đồng).

    Tất cả vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 65/QĐ-VKSCB ngày 31/10/2024 (BB về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/11/2024).

  5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Văn Q, Trần Văn Phú C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CQĐT Công an T. Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam CA T. Tiền Giang;
  • - VKSND H. Cái Bè;
  • - CCTHADS H. Cái Bè;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Thảo Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tổ chức đánh bạc

  • Số bản án: 50/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Thiện phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Tuyên bố bị cáo Lê Văn Quyền phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt tiền 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng). Tuyên bố bị cáo Trần Văn Phú Cường phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt tiền 40.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger