|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày: 04 tháng 6 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và bà Huỳnh Hoa Hường.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai (trực tuyến tại điểm cầu Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang kết nối với điểm cầu phân trại tạm giam khu vực C, tỉnh An Giang; điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét số 09/TB-TA ngày 26 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Minh T, sinh năm 1999; nơi cư trú: tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: số A - A, đường N, tổ C, khóm C, phường C B, thành phố C; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T1 (đã chết) và bà Huỳnh Thị Minh N, sinh năm 1965; chưa có vợ con; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người nhỏ nhất.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 21-9-2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 17-5-2022; ngày 19-4-2025, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm tù, về tội “trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST (đã có hiệu lực pháp luật).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26-9-2024 cho đến nay, có mặt.
2
2. Kiều Quang T2, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ I, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Quang T3, sinh năm 1958 và bà Mai Thị Lệ H, sinh năm 1957; có vợ là Trần Thị Trúc L, sinh năm 1990 và có 01 con, sinh tháng 5/2025; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người lớn nhất.
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 30-7-2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù, về tội “Cướp tài sản”, ngày 17-01-2009 được đặc xá; ngày 17-9-2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 29-12-2015; ngày 19-4-2025, Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HSST (đã có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Phân trại tạm giam khu vực T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Bị hại:
- - Trần Kiêm H1, sinh năm 1953; nơi cư trú: tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- - Huỳnh Thị Minh N, sinh năm 1965; nơi cư trú: tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; có mặt.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Lê Thanh T4, sinh năm 2003; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang – hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C, tỉnh An Giang; có mặt.
- - Phạm Tuấn V (L1), sinh năm 1995; nơi cư trú: 3 Kênh C xéo, khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng - hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, tỉnh Trà Vinh; có mặt.
- - Đặng Xuân H2, sinh năm 1979; nơi cư trú: số B, đường số E, khu dân cư K, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- - Trần Thị Trúc L, sinh năm 1990;, nơi cư trú: Nhà trọ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người làm chứng: Trần Kiêm H3, sinh năm 1955 và Huỳnh Thị Minh Q, sinh năm 1974; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
3
Huỳnh Minh T, sinh năm 1999, cư trú khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang và Kiều Quang T2, sinh năm 1982, cư trú tại tổ I, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang là bạn bè với nhau. Khoảng giữa tháng 09-2024, T mượn Thạch 7.000.000 đồng, sau đó T đã trả một phần cho T2, còn thiếu lại 1.600.000 đồng. Ngày 21-9-2024, T đến phòng trọ của vợ chồng T2 đang thuê tại khóm C, phường C, thành phố C chơi, tại đây T2 yêu cầu T trả hết số tiền còn lại nhưng T nói không có tiền. Do bị T2 gây áp lực phải trả tiền nên T nói với T2 là T sẽ lấy trộm xe môtô của bà Trần Kiêm H1 (có quan hệ bà con dòng họ với T) nhà ở đối diện nhà T sau khi lấy được xe sẽ giao cho T2 bán lấy tiền trả nợ cho T2, T2 đồng ý.
Để giúp sức cho T lấy trộm được xe môtô, T2 đã đưa T dụng cụ dùng để mở khoá xe môtô (thường gọi là cây đoản), có sẵn trong phòng trọ của T2. Sau đó, T một mình đi về nhà mẹ của T là bà Huỳnh Thị Minh N tại số A N, tổ C, khóm C, phường C, thành phố C để chờ cơ hội lấy trộm xe môtô của bà H1. Đến nơi, thấy bà N đã đi khỏi nhà, cửa khoá ngoài, nên T đã leo theo đường cửa sau trên tầng 1 căn nhà phụ cặp vách với nhà chính của bà N (02 nhà có lối đi thông nhau) vào được bên trong nhà. Tại đây, T thấy xe môtô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE biển số 59E1 - 016.34 của ông Lê Hữu H4 (là bạn quen biết ngoài xã hội với bà N, giao cho bà N quản lý) được bà N đem vào căn phòng trống trong nhà khoá cửa lại (do thấy T nghiện ma tuý, sợ T lấy xe môtô trên đem bán), nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe môtô trên, T dùng cưa sắt, cây kiềm có sẵn trong phòng ngủ của T cưa ổ khoá và bẻ gãy khoen khoá cửa mở được cửa phòng bà N cất giữ xe môtô, khi vào bên trong phòng T lấy chìa khoá cửa căn nhà phụ liền kề với nhà chính của bà N mở cửa nhà để đem xe môtô trên ra ngoài.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, thấy T chưa quay lại nhà trọ nên T2 kêu Lê Thanh T4, nơi cư trú tại tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (là bạn của T2) điều khiển xe môtô nhãn hiệu Sirius, biển số 63B1 – 670.48 của T2 đến nhà của T tìm T lấy lại điện thoại di động mà T2 đã cho T mượn trước khi đi về nhà. Khi T4 đến thì T đã dẫn xe môtô biển số 59E1 - 016.34 của ông H4 ra để ở gian trước, T nói cho T4 biết đó là xe môtô của cha T khi chết để lại cho T.
Lúc này, T thấy bà H1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE 110, biển số 67B1-831.42 về đến nhà bà H1 nên T nói với T4 qua lấy xe mô tô của bà H1 và kêu T4 đi ra ngoài để T khoá cửa nhà của T lại. T biết bà H1, khi về đến nhà sẽ vào phòng để ngủ, cửa rào không đóng nên T đi qua nhà bà H1, dùng cây đoản đã chuẩn bị trước bẻ khoá xe môtô của bà H1 mở được công tắc điện rồi dẫn xe môtô của bà H1 ra đường chạy về nhà trọ của T2.
Trước khi vào nhà bà H1 trộm cắp xe môtô, T kêu T4 ở ngoài đường chờ T, khi nào thấy T chạy xe môtô ra thì T4 chạy theo về nhà trọ của T2, nhưng không nói cho T4 biết là T vào nhà bà H1 để trộm cắp xe môtô, nên khi thấy T
4
điều khiển xe môtô của bà H1 chạy về nhà trọ của T2 thì T4 cũng điều khiển xe môtô của T2 chạy theo T.
Sau khi đem xe môtô biển số 67B1-831.42 vừa lấy trộm của bà H1 về nhà trọ của T2 cất giấu, T kêu T4 điều khiển xe môtô của T2 chở T quay lại nhà của T để lấy xe môtô biển số 59E1 - 016.34 của ông H4 đem về nhà trọ của T2 cất giấu. Sau đó, T2 đã nhờ Phạm Tuấn V (bạn của T2) tìm chỗ bán xe mô tô lấy trộm của bà H1 nhưng không nói cho V biết nguồn gốc xe môtô là do T, T2 trộm cắp mà có được.
V đã chỉ cho T2 đem xe môtô đến bán cho một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại phường N, thị xã T, tỉnh An Giang được 4.000.000 đồng. Còn xe môtô 59E1 - 016.34, T2 chỉ cho T bán cho Đặng Xuân H2, sinh năm 1979, nơi cư trú số B đường số E, khu dân cư K, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (bạn của T2) được 8.000.000 đồng vào ngày 24-9-2024. Khi bán xe môtô cho H2, T không nói cho H2 biết nguồn gốc xe môtô là do T trộm cắp mà có. Số tiền bán 02 xe môtô, T2 giữ lại 1.600.000 đồng đề trừ nợ, còn lại 10.400.000 đồng T tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi thực hiện 02 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang. Ngày 25-09-2024, T2 và V rủ T và T4 đến tỉnh Trà Vinh để tìm tài sản lấy trộm nên T, T4 đồng ý. Khi đến tỉnh Trà Vinh cả nhóm đã cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp xe môtô tại huyện T và huyện T.
Trong quá trình điều tra, T khai: Trong thời gian ở tỉnh Trà Vinh, T2 đưa cho T 01 bọc nylon chứa ma tuý bên trong kêu T giữ. Đến sáng ngày 26-09-2024, khi T và T2 quay về đến nhà trọ của T2 tại khóm C, phường C B thì T2 nhờ T đem bọc ma tuý nói trên đưa cho V đang ở nhà trọ “M" thuộc phường V, thành phố C. Trên đường đem bọc ma tuý trên đưa cho V, T đi về nhà của T để lấy đồ cá nhân. Khi về đến nhà, được sự vận động của bà N, T đã đến Công an phường C B đầu thú về hành vi trộm cắp 02 xe môtô nói trên, đồng thời T cũng tự thú hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và giao nộp 01 bọc ma túy nói trên.
Vật chứng thu giữ: 01 bọc nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (giám định là ma túy, loại Methamphetamine); 01 ổ khoá bằng kim loại màu vàng; 01 cây cưa sắt; 01 cái quần jean ngắn màu xanh; 01 cái nón bảo hiểm màu xanh; 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu đen xám vàng, biển số 59E1-016.34 và 01 giấy mua bán xe; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63B1- 670.48 nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS và 01 giấy mua bán xe; 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển số 63B1-670.48; 02 biển số xe môtô 84H1-491.53 và 84AF-039.73; 01 tay cầm ống điếu bằng kim loại màu trắng dài 11,2cm.
Vật chứng đã xử lý: trao trả cho bà Huỳnh Thị Minh N 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu đen xám vàng, biển số 59E1-016.34; bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T 02 biển số xe môtô 84H1-491.53 và 84AF-039.73.
5
- * Căn cứ Kết luận giám định số 1379/KL-KTHS ngày 03-10-2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,5494 gam. (Bút lục số: 110)
- * Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 2653/KL-ĐG ngày 08-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110, biển số 67B1-831.42, trị giá 7.000.000 đồng.
- * Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 2652/KL-ĐG ngày 08-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đen xám vàng, biển số 59E1-016.34, trị giá 26.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSCĐ ngày 21-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố các bị cáo Huỳnh Minh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, Kiều Quang T2 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa,
- - Các bị cáo Kiều Quang T2, Huỳnh Minh T khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản; bị cáo Huỳnh Minh T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng truy tố.
- - Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị cáo T đã bồi thường 10.000.000 đồng cho bà H1, bà N đã nhận lại xe mô tô, đã hoàn trả cho ông Đặng Xuân H2 5.000.000 đồng; bà H1, bà N và ông H2 không yêu cầu bồi thường thêm, đồng thời bà H1, bà N xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Kiều Quang T2, Huỳnh Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Huỳnh Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung cáo trạng.
Tình tiết tăng nặng: bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại; tự thú về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thuộc thành phần nhân dân lao động hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thành khẩn
6
khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình điều tra bị cáo T đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra để phát hiện xử lý tội phạm; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo T2 thuộc thành phần nhân dân lao động hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có con nhỏ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- * Đối với bị cáo T: Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm b, s, r, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 55, 56, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T:
- - 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”,
- - 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Tổng hợp hình phạt của 02 tội: 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
- Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù tại Bản án số 30/2025/HSST ngày 19/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng (Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 9 năm 2024);
- * Đối với bị cáo T2: Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 56, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Kiều Quang T2:
- - 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại Bản án số 30/2025/HSST ngày 19/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù (Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 11 năm 2024);
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo không có nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà H1 đã nhận bồi thường 10.000.000 đồng, ông H2 đã nhận 5.000.000 đồng, bà N đã nhận lại xe mô tô; bà H1, ông H2 và bà N không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy gói ma túy còn lại sau giám định, các dụng cụ dùng vào việc phạm tội; giao trả lại chiếc xe mô tô biển số 63B1-670.48 cho Đặng Xuân H2 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2025); buộc bị cáo T2 giao nộp lại số tiền 1.600.000 đồng là số tiền do phạm tội mà có để sung vào Ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại Trần Kiêm H1; người có quyền, nghĩa vụ liên quan Đặng Xuân H2, Trần Thị Trúc L; người làm chứng Trần Kim H5, Huỳnh Thị Minh Q, vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra những người vắng mặt đã có lời khai, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của bị cáo Huỳnh Minh T, Kiều Quang T2 tại phiên tòa thừa nhận: vào ngày 21/9/2024, do T2 đòi nợ nên T nói với T2 là T sẽ lấy trộm xe môtô của bà Trần Kiêm H1 giao cho T2 bán lấy tiền trả nợ cho T2, T2 đồng ý và T2 đã đưa T dụng cụ dùng để mở khoá xe môtô (thường gọi là cây đoản). T đã đột nhập vào nhà mẹ ruột là bà N tại số A - A N, tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, dùng cưa sắt, cây kiềm có sẵn trong phòng ngủ của T cưa ổ khoá và bẻ gãy khoen khoá cửa mở được cửa phòng bà N nơi cất giữ xe môtô (nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE biển số 59E1 - 016.34 của ông Lê Hữu H4, bạn bà N) rồi dẫn xe môtô trên ra ngoài. Sau đó, T vào nhà bà H1 (nhà ở đối diện nhà bà N), dùng cây đoản (do T2 đưa trước đó) bẻ khoá xe môtô (nhãn hiệu HONDA, loại WAVE 110, biển số 67B1-831.42) của bà H1 mở được công tắc điện rồi dẫn xe môtô của bà H1 ra đường chạy về nhà trọ của T2. Sau đó, T kêu T4 điều khiển xe môtô của T2 chở T quay lại nhà của T để lấy xe môtô biển số 59E1 - 016.34 của ông H4 đem về nhà trọ của T2 cất giấu.
T2 đã nhờ Phạm Tuấn V (bạn của T2) tìm chỗ bán xe mô tô lấy trộm của bà H1. V đã chỉ cho T2 đem xe môtô đến bán cho một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại phường N, thị xã T, tỉnh An Giang được 4.000.000 đồng. Còn xe môtô lấy trộm của bà N (59E1 - 016.34), T2 chỉ cho T bán cho Đặng Xuân H2 được 8.000.000 đồng vào ngày 24/9/2024.
Lời khai của các bị cáo T2 và T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo ở giai đoạn điều tra, lời khai của các bị hại bà N, bà H1, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Tuấn V, Lê Thanh T4, Đặng Xuân H2, Trần Thị Trúc L, những người làm chứng: Trần Kiêm H3, Huỳnh Thị Minh Q và phù
8
hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa và Kết luận định giá tài sản.
Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, bị cáo Huỳnh Minh T có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô của bà Huỳnh Thị Minh N trị giá 26.000.000 đồng và bị cáo Kiều Quang T2 hứa hẹn và giúp sức cho bị cáo T lén lút chiếm đoạt xe mô tô của bà Trần Kiêm H1 trị giá 7.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 33.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo T, tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào ngày 25/9/2024, T có cất giấu gói ma túy đá do T2 giao trong thời gian ở Sóc Trăng. Đến ngày 26/9/2024, khi về C, T2 kêu T đưa gói ma tuý cho V (ở nhà trọ “Mỹ Hồng” thuộc phường V, thành phố C). Khi về nhà được gia đình vận động, bị cáo đã đầu thú về hành vi trộm cắp xe mô tô và tự thú, khai báo và giao nộp gói ma túy cho Công an. Kết quả giám định xác định gói ma túy bị cáo T giao nộp có trọng lượng 1,5494 gam ma túy (loại Methamphetamine). Do đó, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trừ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt. Ma túy là chất gây nghiện, là mầm móng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, được Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo T và bị cáo T2 đều là người trưởng thành, là người đang ở tuổi lao động. Đáng lẽ, các bị cáo phải tìm cho mình một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì lười lao động muốn có tiền để tiêu xài nên các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bị cáo T là người chủ động trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của bà H1; bị cáo T2 là người hứa hẹn và giúp sức, cung cấp dụng cụ phá khóa cho T để T thực hiện trộm cắp xe mô tô của bà N.
Bị cáo T còn thực hiện hành vi cất giấu ma túy, mặc dù bị cáo khai do T2 giao và kêu bị cáo đưa ma túy cho V nhưng kết quả điều tra không có căn cứ chứng minh ma túy là của T2 hay V. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
9
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, hành vi của bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng trái phép xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy.
Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng vi phạm pháp luật bị xử phạt tù, là người nghiện ma túy, nên cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội từ 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T và bị cáo T2 thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Ngoài ra, bị cáo T tác động gia đình bồi thường cho bị hại H1 số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo tự thú khai báo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên được xem xét áp dụng quy định tại điểm b, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại là bà N và bà H1 xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với bị cáo T2 thuộc thành phần nhân dân lao động, hiện tại có con còn nhỏ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung, do các bị cáo không có nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trao trả cho bà Huỳnh Thị Minh N 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu đen xám vàng, biển số 59E1 – 016.34 là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- - 01 ổ khoá bằng kim loại màu vàng; 01 cây cưa sắt; 01 cái quần jean ngắn màu xanh; 01 cái nón bảo hiểm màu xanh là của bị cáo T; 01 tay cầm ống điếu bằng kim loại màu trắng dài 11,2cm không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại, xét tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63B1 – 670.48 nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS; 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển số 63B1 – 670.48; là của bị cáo Thạch mượn của Đặng Xuân H2, do không liên quan đến
10
tội phạm nên giao trả lại cho H2 theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và còn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong (vụ số 1379/KL-KLHS(MT-GT) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C và các chữ ký ghi tên : Nguyễn Thị Mỹ H6, Trần Thế A) là vật cấm nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với số tiền bị cáo Thạch nhận của bị cáo T 1.600.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo T2 giao nộp để sung vào Ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[7] Về trách nhiệm dân sự, bị hại bà H1 đã nhận tiền bồi thường giá trị xe mô tô bị mất của gia đình bị cáo T, Đặng Xuân H2 đã nhận số tiền 5.000.000 đồng do gia đình bị cáo T hoàn trả lại. Bà H1, bà N và H2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
[8] Vấn đề khác:
Việc T khai ma túy là của T2 đưa cho T để giao cho Phạm Tuấn V. Ngoài lời khai của T và T2 không thừa nhận thì không chứng cứ nào khác để chứng minh việc T2 đưa ma túy cho T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
Lê Thanh T4 có mặt nơi T lấy trộm xe mô tô và đi theo khi T lấy trộm được 02 xe mô tô. Nhưng, T4 không biết được việc T lấy trộm xe của người khác, cũng không giúp sức gì và không được hưởng lợi gì trong việc này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý T4 là có căn cứ.
Phạm Tuấn V giới thiệu người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) mua xe của T, nhưng V không biết là xe do T trộm cắp mà có, khi bán được xe V cũng không được hưởng lợi gì từ T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý V là có căn cứ.
[9] Về án phí hình sự và quyền kháng cáo:
Bị cáo T và T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
11
Tuyên bố các bị cáo Kiều Quang T2, Huỳnh Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b, s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 ; Điều 55, Điều 56, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Huỳnh Minh T: 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình phạt của 02 tội là: 02 năm 03 tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù tại Bản án số 30/2025/HSST ngày 19/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 9 năm 2024;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 56, 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: bị cáo Kiều Quang T2: 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại Bản án số 30/2025/HSST ngày 19/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 11 năm 2024;
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 ổ khoá bằng kim loại màu vàng; 01 cây cưa sắt; 01 cái quần jean ngắn màu xanh; 01 cái nón bảo hiểm màu xanh; 01 tay cầm ống điếu;
- - Chất ma túy trong phong bì được niêm phong (vụ số 1379/KL-KLHS(MT-GT) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C và các chữ ký ghi tên : Nguyễn Thị Mỹ H6, Trần Thế A);
Giao trả cho Đặng Xuân H2: 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63B1 – 670.48 nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS và 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển số 63B1 – 670.48;
12
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố C với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Buộc bị cáo Kiều Quang T2 giao nộp 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo T và bị cáo T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; người quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |
13
Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự
- Số bản án: 50/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS HUỲNH MINH THÀNH, KIỀU QUANG THẠCH - TCTS, TTTPCMT
