TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2025/HS-ST Ngày 03 tháng 4 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Hậu, ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Đặng Huỳnh T (còn có tên gọi khác là TCủ Cải), sinh ngày 04/3/1979 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: A khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thanh N (chết) và bà Huỳnh Thị Đ (chết); có vợ là Phạm Thị Hoàng Y và có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 05 tháng 04 năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 16 tháng đến ngày 13/4/2018 chấp hành xong. Ngày 20 tháng 5 năm 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đến ngày 19/7/2021 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực L – Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
Bị hại: Ông Trần N1 T1sinh năm 1982; địa chỉ: Số F, tổ B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người làm chứng: Bà Huỳnh Minh H(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 17 tháng 11 năm 2024, Đặng Huỳnh T1 người thanh niên tên L(chưa rõ họ, địa chỉ) đi bộ đến khu vực hẻm thuộc tổ A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giangđể tìm tài sản lấy trộm bán tiêu xài, thì thấy xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen bạc, biển số 67E1 – 007.37 của anh Trần Ngọc T2 ở lề đường trong hẻm, không người trông giữ. Lúc này, L1 cho T01 cây sắt hình chữ L, 01 đầu dẹp (cây đoản dùng bẻ khóa xe) để bẻ khóa lấy trộm xe, còn L2 đầu hẻm để cảnh giới. Tđi đến dùng cây đoản bẻ khóa xe lấy trộm xe mô tô 67E1 – 007.37 điều khiển ra đầu hẻm chở L3 khu vực cổng trường Tiểu học T2thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L cây đoản và xe cho L4 khiển chở Tđến khu vực bờ kè N thuộc phường M, thành phố LTại đây, Lđiện thoại liên hệ bán xe, sau đó có 01 người thanh niên (không rõ nhân thân) đến mua xe mô tô 6781 – 007.37 với giá 2.000.000 đồng. Lnhận tiền rồi đưa cho T1.000.000 đồng.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, Tđến Công an phường Mđầu thú hành vi lấy trộm xe nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 2348/KL-HĐĐGTS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố LMột xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen bạc, số máy JC43E6105505, số khung4329BY181958, biển số 67E1 – 007.37, bánh căm, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 50% trị giá: 9.950.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Tại Bản tường trình ngày 01/4/2025, bị hại là anh Trần N1 T1yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 65/CT-VKSLX ngày 05 tháng 3 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Đặng Huỳnh T3 tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Huỳnh T từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo T4 thường cho anh T1số tiền 9.500.000 đồng.
+ Về xử lý vật chứng: Không.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Tại phiên toà, bị hại và người làm chứng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 17/11/2024, tại khu vực hẻm thuộc tổ A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen bạc, biển số 67E1-007.37 của anh Trần Ngọc T5 trị giá là 9.950.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nhưng xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc; bản thân không có nghề nghiệp ổn định nên cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp để bị cáo có đủ thời gian rèn luyện, giáo dục trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Trần N1 Tlyêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo cũng tự nguyện bồi thường số tiền này cho anh T1nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị cáo T4 thường cho anh T1số tiền 9.500.000 đồng.
[7] Đối với đối tượng tên L5 lấy trộm xe với bị cáo T6 người thanh niên đã mua xe trộm được do chưa xác định được nhân thân của họ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ltiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Đặng Huỳnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Huỳnh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/11/2024).
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự 2015. Buộc bị cáo Đặng Huỳnh T7 trách nhiệm bồi thường cho bị hại là anh Trần N1 T1số tiền 9.500.000 (Chín triệu năm trăm nghìn) đồng.
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Huỳnh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 475.000 (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA TÒA
Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 50/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 50/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản bị phạt 01 năm tù
