Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 50/2025/HS-PT

Ngày 28-11-2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phùng Chí Thiện

Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thuỳ Dương- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, đối với các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2025/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4-Lào Cai (Được sửa chữa, bổ sung Bản án theo Thông báo số 38/2025/TB-TA ngày 29-8-2025).

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Đình D sinh ngày 08-6-1982 tại tỉnh Phú Thọ; cư trú tại: Khu A, xã H, tỉnh Phú Thọ (Địa chỉ cũ: Khu A, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ); số CCCD: 025082001113; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình H và bà Đỗ Thị N1; vợ là Lê Thị H1 và có 01 con sinh năm 2012; tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại Bản án số: 38/2024/HS-ST ngày 15-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt 27 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (Bị cáo đã chấp hành được 06 tháng 20 ngày Cải tạo không giam giữ)

    Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 27-6-2025 đến ngày 08-7-2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

  2. Hoàng Tiến T sinh ngày 08-8-1988 tại tỉnh Yên Bái (Cũ); cư trú tại: Thôn C, xã V, tỉnh Lào Cai (Địa chỉ cũ: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái); số CCCD: 015088005641; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hữu K (đã chết) và bà Ninh Thị V; vợ là Trương Thị M và có 02 con (Con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017); tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại Bản án số: 30/2024/HS-ST ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc.

    Nhân thân: Ngày 31-12-2021 bị Công an xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi Đánh nhau.

    Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11-4-2025 đến ngày 04-6-2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

  3. Vũ Văn A, sinh ngày 26-11-1981 tại tỉnh Yên Bái (Cũ); cư trú tại: Thôn L, xã T, tỉnh Tuyên Quang (Địa chỉ cũ: Thôn L, xã K, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang); số CCCD: 015081009277; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị H2; vợ là Ma Thị D1 và có 01 con sinh năm 2006; tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-5-2025 đến ngày 30-5-2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.

  4. Hoàng Văn T1 sinh ngày 14-3-1982 tại tỉnh Yên Bái (Cũ); nơi cư trú: Thôn C, xã C, tỉnh Lào Cai (Địa chỉ cũ: Thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái); Số CCCD: 015082005101; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn B1 và bà Bùi Thị V1; vợ là: Phạm Thị C và có 02 con (Con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012); tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-5-2025 đến ngày 30-5-2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.

  5. Hoàng Thị N sinh ngày 01-01-1966 tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu M, xã P, tỉnh Sơn La (Địa chỉ cũ: Tiểu khu M, thị trấn Q, huyện P, tỉnh Sơn La); số CCCD: 014166001995; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P và bà Nguyễn Thị T2 (Đều đã chết); chồng là Cầm Văn Ú và có 02 con (Con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1994); tiền án: Không;

    Tiền sự: Ngày 19-4-2024 bị Công an huyện P, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc.

    Nhân thân:

    • Ngày 22-12-2009 bị Công an huyện P, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc.
    • Ngày 30-9-2010 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc theo Bản án số: 58/2010/HS-ST.
    • Ngày 06-01-2017 bị Công an xã Q, huyện P, tỉnh Sơn La xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc.
    • Ngày 03-7-2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc theo Bản án số: 59/2017/HS-ST.

    Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11-4-2025 đến ngày 04-6-2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

  6. Hà Thị B sinh ngày 12-7-1976 tại tỉnh Sơn La; cư trú tại: Tiểu khu C, xã P, tỉnh Sơn La (Địa chỉ cũ: Tiểu khu C, thị trấn Q, huyện P, tỉnh Sơn La); số CCCD: 014176002534; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn L1 (đã chết) và bà Bạc Thị Á; chồng là Cầm Văn B2 và có 02 con (Con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 17-12-2008 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc theo Bản án số: 63/2008/HS-ST.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo Vũ Hải H3, Hoàng Thị L2, Nguyễn Trung K1, Hoàng Văn H4, Sa Thị Q, Hà Thúy V2 không có kháng cáo, không bị kháng nghị, nên Toà án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09-4-2025, Nguyễn Trung K1 và Nguyễn Đình D đi taxi từ tỉnh Sơn La về xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái thì dừng lại nghỉ ngơi uống nước. Tại đây K1 và D gặp người phụ nữ tên T3 (Không xác định được nhân thân, lai lịch người này). Sau đó K1 và D rủ T3 đi chơi cùng rồi K1 gọi điện cho Hoàng Văn T1 rủ nhau đi chơi, T1 đồng ý và hẹn K1 gặp mặt tại thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là thôn B, xã C, tỉnh Lào Cai). Cùng lúc này tại nhà T1 có mặt Hoàng Văn H4 nên T1 rủ H4 đi chơi cùng. Ngoài ra T1 gọi điện thoại rủ thêm một số người khác gồm: Hoàng Thị L2, Hoàng Thị N, Hà Thúy V2, Sa Thị Q, Hà Thị B đi cùng. Tiếp sau đó T1 còn rủ Hoàng Tiến T thì T đồng ý và đi xe taxi từ nhà vào xã C. Sau đó, T1 và H4 đi một xe taxi, trên đường đi T1 rủ thêm Vũ Hải H3 và Vũ Văn A đi cùng. Còn nhóm của L2, N, V2 và Q đi một xe taxi khác, trên đường đi thì xe L2 gặp T nên T lên xe này cùng đi với nhóm của L2. Đến nơi cả nhóm gặp K1, D và T3, rồi cùng nhau đi bộ vào khu nhà của Công ty Q1 sắt Làng Nghị cũ (bị bỏ hoang) để đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền. Trước khi chơi thì H3 dùng con dao có sẵn ở trong nhà làm 04 quân vị từ cây tre; D sử dụng bộ bát đĩa sứ và 04 quân vị để xóc cái tính kết quả được thua. Cánh thức chơi như sau: Nguyễn Đình D để 04 quân vị vào trong đĩa, sau đó úp bát lên đĩa dùng tay xóc đi xóc lại nhiều lần rồi đặt xuống chiếu và được gọi là người cầm cái; Trên chiếu được quy định một bên là cửa chẵn và 01 bên là cửa lẻ. Sau khi các con bạc đã đặt tiền vào cửa mà mình đã xác định đánh, người cầm cái sẽ mở bát ra, nếu 04 quân vị trong đĩa đều là mặt đen hoặc đều là mặt trắng hoặc có 02 quân mặt đen và 02 quân mặt trắng thì những ai đặt cược bên cửa chẵn sẽ thắng và những người đặt bên cửa lẻ là những người thua; nếu 04 quân vị trong đĩa có 03 quân mặt đen 01 quân mặt trắng hoặc 03 quân mặt trắng 01 quân mặt đen thì ai đặt bên cửa lẻ sẽ thắng, còn những người đặt cược bên cửa chẵn là những người thua và người cầm cái sẽ lấy tiền của bên thua trả cho người bên thắng. Với số tiền bằng số tiền mà người chơi đã đặt, nếu số tiền thu được của bên thua sau khi trả cho bên thắng mà còn thừa ra thì người cầm cái được hưởng, ngược lại nếu thiếu thì người cầm cái phải bỏ tiền của mình ra để trả cho bên thắng.

Khi đánh bạc ngồi phía bên phải lần lượt đến bên trái D gồm có A, T, B, N, L2, H4, V2, Q, T1, H3 và K1. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 00 giờ 30 ngày 10-4-2025 thì bị lực lượng Công an xã C phát hiện và bắt giữ được Hoàng Thị L2, Hoàng Tiến T, Hoàng Thị N còn các đối tượng khác chạy trốn được. Công an thu giữ tại chỗ số tiền 23.800.000đồng cùng các công cụ, phương tiện sử dụng để đánh bạc. Quá trình điều tra xác định số tiền được sử dụng vào việc đánh bạc như sau: Nguyễn Đình D sử dụng 2.000.000 đồng, Hoàng Văn T1 sử dụng 1.600.000đồng, Hoàng Văn H4 sử dụng số tiền 2.200.000 đồng, Hoàng Tiến T sử dụng số tiền 1.800.000đồng, Vũ Hải H3 sử dụng số tiền 1.600.000đồng, Vũ Văn A sử dụng số tiền 700.000đồng, Hoàng Thị L2 sử dụng số tiền 900.000đồng, Hoàng Thị N sử dụng số tiền 1.700.000đồng, Hà Thúy V2 sử dụng số tiền 500.000đồng, Sa Thị Q sử dụng số tiền 650.000đồng, Hà Thị B sử dụng số tiền 850.000đồng, Nguyễn Trung K1 sử dụng số tiền 9.300.000đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 28-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Lào Cai (Được sửa chữa, bổ sung Bản án theo Thông báo số 38/2025/TB-TA ngày 29-8-2025) đã quyết định:

I. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B phạm tội Đánh bạc.

II.Về hình phạt:

  1. Nguyễn Đình D: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo D 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 11 (Mười một) ngày (từ ngày 27-6-2025 đến ngày 07-7-2025). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 01 (một) năm 07 (bảy) tháng 19 (mười chín) ngày tù.

    - Hình phạt bổ sung: Phạt Nguyễn Đình D 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ khoản 1 Điều 36, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.

    Tổng hợp với hình phạt còn lại của Bản án số: 38/2024/HS-ST ngày 15-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ là 20 (hai mươi) tháng 10 (mười) ngày Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc quy đổi thành 06 (sáu) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của 02 bản án là 02 (hai) năm 02 (hai) tháng 11 (mười một) ngày tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

  2. Hoàng Tiến T: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 01 (một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày (từ ngày 11-4-2025 đến ngày 03-6-2025). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 01 (một) năm 02 (hai) tháng 06 (sáu) ngày tù.

    Căn cứ khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số: 30/2024/HS-ST ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 06 (sáu) ngày tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

  3. Vũ Văn A: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo A 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ là 04 (bốn) ngày (từ ngày 27-5-2025 đến ngày 30-5-2025). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 01 (một) năm 03 (ba) tháng 27 (hai mươi bẩy) ngày tù.

    Căn cứ khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số: 30/2024/HS-ST ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng 27 (hai mươi bẩy) ngày tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

  4. Hoàng Văn T1: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo T1 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 (ba) ngày (từ ngày 27-5-2025 đến ngày 29-5-2025). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 01 (một) năm 03 (ba) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù.

    Căn cứ khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số: 30/2024/HS-ST ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng 27 (hai mươi bẩy) ngày tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

  5. Hoàng Thị N: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 01 (một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày (từ ngày 11-4-2025 đến ngày 03-6-2025). Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù là 01 (một) năm 01 (một) tháng 06 (sáu) ngày tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

  6. Hà Thị B: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Vũ Hải H3, Hoàng Thị L2, Nguyễn Trung K1, Hoàng Văn H4, Sa Thị Q, Hà Thúy V2; quyết định xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 09-9-2025, các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong giai đoạn phúc thẩm,

Các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B giao nộp Biên lai nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với mỗi bị cáo là 200.000đồng. Bị cáo Hoàng Tiến T nộp Giấy xác nhận gương người tốt, việc tốt của Công an xã V ngày 07-11-2025 về việc nộp tài sản nhặt được để trả cho chủ sở hữu; bị cáo Hà Thị B nộp bản sao Huân chương Kháng chiến hạng Nhì của bố đẻ là ông Hà Văn L1.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B đều thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội; các bị cáo thừa nhận về tội danh và điều luật áp dụng như Bản án sơ thẩm đã kết án là đúng và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên trình bày quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số số 04/2025/HS-ST ngày 28-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Lào Cai theo hướng giảm hình phạt tù cho mỗi bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo nội dung kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án thì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B đúng hình thức, trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét xét, giải quyết phúc thẩm.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng thời gian từ 21 giờ 30 ngày 09-4-2025 đến 00 giờ 30 ngày 10-4-2025, tại căn nhà bỏ hoang thuộc thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái (Nay thuộc thôn B, xã C, tỉnh Lào Cai), các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B và các bị cáo khác đã cùng tham gia thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” được thua bằng tiền; tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 23.800.000đồng. Do đó, Bản án sơ thẩm kết án các bị cáo này về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là chính xác. Các bị cáo thừa nhận về tội danh và điều luật áp dụng, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Khi quyết định hình phạt, Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo, đồng thời xem xét, áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với từng bị cáo theo quy định của pháp luật. Do đó, mức hình phạt tù mà bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo là thỏa đáng, phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nhận thức được sai lầm, tỏ ra ăn năn hối cải bằng việc đã tự giác nộp toàn bộ án phí sơ thẩm. Đối với bị cáo Hoàng Tiến T có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là được Công an xã V xác nhận tấm gương người tốt, việc tốt; bị cáo Hà Thị B có bố đẻ là ông Hà Văn L1 được tặng thưởng Huân chương Kháng chiếng hạng nhì, nên bị cáo T và bị cáo B được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, mà vẫn đáp ứng được yêu cầu giáo dục, răn đe, phòng ngừa đối với các bị cáo.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Việc sửa án sơ thẩm là do phát sinh tình tiết mới tại phiên toà, nên cấp sơ thẩm không có lỗi.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

[1] Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 28-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Lào Cai như sau:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình D, Hoàng Tiến T, Vũ Văn A, Hoàng Văn T1, Hoàng Thị N, Hà Thị B phạm tội Đánh bạc.

2. Về hình phạt:

2.1. Đối với bị cáo Nguyễn Đình D: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù; phạt tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Tổng hợp với hình phạt còn lại là 06 (Sáu) tháng 23 (Hai mươi ba) ngày tù của Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 15-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ (Được quy đổi từ 20 tháng 10 ngày Cải tạo không giam giữ chưa chấp hành), buộc bị cáo Nguyễn Đình D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng 23 (Hai mươi ba) ngày tù; phạt tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-6-2025 đến ngày 08-7-2025.

2.2. Đối với bị cáo Hoàng Tiến T: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Hoàng Tiến T 08 (Tám) tháng tù; Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số: 30/2024/HS-ST ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, buộc bị cáo Hoàng Tiến T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 (Một) năm 11 (Mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-4-2025 đến ngày 04-6-2025

2.3. Đối với bị cáo Vũ Văn A: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn A 10 (Mười) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số: 30/2024/HS-ST ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, buộc bị cáo Vũ Văn A phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 27-5-2025 đến ngày 29-5-2025.

2.4. Đối với Hoàng Văn T1: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 10 (Mười) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số: 30/2024/HS-ST ngày 27-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Buộc bị cáo Hoàng Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 27-5-2025 đến ngày 29-5-2025.

2.5. Đối với bị cáo Hoàng Thị N: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-4-2025 đến ngày 03-6-2025.

2.6. Đối với bị cáo Hà Thị B: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Thị B 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

[3] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà PT-TANDTC tại Hà Nội;
  • - Viện PT1-VKSNDTC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - Cq CSĐT- CA tỉnh Lào Cai;
  • - Cq THAHS-CA tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Lào Cai;
  • - TAND KV4-Lào Cai (6);
  • - VKSND KV4- Lào Cai;
  • - Phòng THADS KV4- Lào Cai;
  • - Bị cáo (Tại ngoại-6);
  • - Lưu: HS(2), TA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HS-PT ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 50/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Dũng và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger