Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30- 5- 2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kiều Hương và ông Lê Hoàng Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Hiếu– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh– Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2025/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 2 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 16/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2025/QĐST-DS ngày 7/5/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1994; Có mặt,
  • Nơi cư trú: Số 1 đường Đ, xóm C, thôn G, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Đức T1, sinh năm 1995; vắng mặt
  • Nơi cư trú: Số A, đường số C, thôn C, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn chị Trần Thị Thu T trình bày: Chị T và anh T1 kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Đ. Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 7 năm, thì có nhiều mâu thuẫn xảy ra. Nguyên nhân tính tình không hợp nhau, anh T1 có tính gia trưởng, càng sống với nhau cả hai càng nhận ra có nhiều việc không thể dung hòa, nên dần mất tiếng nói chung, nên thường xuyên cãi vã. Tháng 8/2024 chị T có làm đơn yêu cầu ly hôn, sau đó rút đơn, để tạo điều kiện vợ chồng cùng chung sống hòa thuận, nhưng vẫn không có kết quả. Đến tháng 9/2024 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung: Phạm Đức T2, sinh ngày 11/11/2016 và Phạm Trần Đan T3, sinh ngày 20/10/2021. Hiện các con đang sống cùng với cha tại nhà ông, bà nội. Do gia đình anh T1 không cho chị T tiếp xúc các con trong thời gian sống ly thân, nên chị T không đưa các con đến Tòa án, để Tòa án ghi nhận ý kiến của con trên 7 tuổi. Nếu ly hôn chị T yêu cầu nuôi cả 02 con và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho mỗi con 01 tháng 2.000.000 đồng. Hiện nay chị T làm công nhân thu nhập 10.000.000 đồng/tháng, gia đình cha, mẹ chị T có kinh tế khá hơn gia đình anh T1; còn anh T1 không có nghề nghiệp, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, sống với mẹ già.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa anh T1 không tham gia, nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của anh T1 về các yêu cầu khởi kiện của chị T. Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T1 biết, nhưng đến nay anh T1 cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.

Qua kết quả xác minh thể hiện: Chị T và anh T1 có hộ khẩu tại thôn C, xã S, nhưng hiện tại vợ chồng không còn chung sống với nhau. Anh T1 có tính hay ham chơi, cờ bạc, không có công việc ổn định. Vợ chồng có 02 con chung, hiện sống cùng với cha và bà nội. Gia đình anh T1 thuộc diện hộ cận nghèo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định, Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai, nên xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con giao cho chị T nuôi cháu Đan T3, anh T1 nuôi cháu T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp về nuôi con; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Tại phiên toà vắng mặt bị đơn đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
  3. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T4 và anh Phạm Đức T1 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, chị T4 và anh T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân là do anh T1 không lo làm ăn, ham chơi cờ bạc. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên chị T4 về đoàn tụ lo cho con cái, nhưng chị T4 cương quyết ly hôn chứng tỏ hôn nhân vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn thật sự trầm trọng, có duy trì cũng không đem lại lợi ích cho các bên. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T4, xử cho ly hôn là phù hợp Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  4. Về con chung: Chị T4 và anh T1 có 02 con chung: Phạm Đức T2, sinh ngày 11/11/2016 và Phạm Trần Đan T3, sinh ngày 20/10/2021, hiện các cháu sống cùng cha và bà nội. Chị T4 có nguyện vọng nuôi cả 02 con và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho mỗi con 01 tháng 2.000.000 đồng. Xét hiện nay chị T4 làm công nhân, nên ít có thời gian chăm sóc tốt cho 02 con. Đồng thời bản thân anh T1 không có công việc ổn định, nên khó có thể đáp ứng việc cấp dưỡng nuôi con, theo như yêu cầu của chị T4. Do đó để chia sẽ trách nhiệm nuôi con cho cả hai bên, nên cần giao cho mỗi bên nuôi 01 con và không bên nào phải cấp dưỡng là phù hợp điều kiện hiện nay của hai bên và phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, buộc anh T1 phải giao cháu Phạm Trần Đan T3, sinh ngày 20/10/2021 cho chị T4 trực tiếp nuôi dưỡng.
  5. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên không phải xem xét.
  6. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, theo quy định.
  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu T ly hôn anh Phạm Đức T1.
  2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Trần Đan T3, sinh ngày 20/10/2021. Anh Phạm Đức T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Đức T2, sinh ngày 11/11/2016.

    Buộc anh Phạm Đức T1 phải chịu trách nhiệm và nghĩa vụ giao cháu Phạm Trần Đan T3, sinh ngày 20/10/2021 cho chị Trần Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu anh T1 không tự nguyện thi hành, thì chị T được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế.

    Chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Đức T1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005224, ngày 24/2/2025. Chị T đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể ngày tuyên án (30/5/2025); bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - CC THADS huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV và THA tỉnh
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Lưu HSVA, QĐ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà Thảo yêu cầu được ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger