Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-5-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Kim Lý.
  2. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 201/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu N, sinh năm 1996, nơi thường trú: xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: Nhà trọ Huỳnh Văn L, tổ G, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1996; nơi thường trú: ấp L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nơi tạm trú: Nhà trọ N, tổ E, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Thu N trình bày:

Bà Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Văn Q1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 02, cấp ngày 03/01/2020, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn bà N và ông Q1 sống rất hạnh phúc, cả hai quan tâm chăm sóc nuôi dạy con. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường hay cãi vã, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau. Quá trình chung sống bà N phải tự đi làm kiếm tiền trang trải chi phí sinh hoạt gia đình, học phí của cháu T. Ông Q1 đi làm không mang thu nhập về cho vợ trang trải chi phí sinh hoạt gia đình, chi phí học hành của con. Ông Q1 thường xuyên đánh bạc gây nợ, về nhà nói lời xúc phạm danh dự của bà N. Bà N và ông Q1 không còn sống chung với nhau từ năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn Q1. Bà N tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về con chung: Bà N và ông Q1 có 01 con chung tên Nguyễn Khánh T, sinh ngày 9/7/2021. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T, không yêu cầu ông Q1 cấp dưỡng nuôi cháu T.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng Tòa án tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho bị đơn tại nơi bị đơn tạm trú, tuy nhiên bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà N được ly hôn với ông Q1; về con chung: Giao con chung là Nguyễn Khánh T, sinh ngày 09/7/2021 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông Q1 cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Văn Q1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Nay bà N có đơn xin ly hôn với ông Q1, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Khánh T. Như vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Đối với bị đơn Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, cố tình không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt bà N và ông Q1 theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Các vấn đề có tranh chấp: Bà N và ông Q1 là vợ chồng, sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh vào ngày 03/01/2020 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà N cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không còn ai quan tâm đến ai, ông Q1 không đưa tiền chi phí sinh hoạt gia đình mà bà N phải một mình kiếm tiền trang trải chi phí sinh hoạt gia đình, chi phí học hành của con. Hiện nay vợ chồng không còn chung sống. Bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn. Mặc dù qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Q1 chính quyền địa phương không nhận thấy mâu thuẫn gì, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập để ông Q1 tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa nhưng ông Q1 vẫn cố tình vắng mặt xem như ông đã từ bỏ quyền trình bày để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng chứng tỏ ông Q1 không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Bà N và ông Q1 không còn sống chung một nhà, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng không cùng nhau chăm sóc nuôi dạy con và cùng nhau xây dựng kinh tế, hạnh phúc gia đình như vậy vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau. Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà N và ông Q1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà N xin ly hôn là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà N và ông Q1 có 01 con chung tên Nguyễn Khánh T, sinh ngày 09/7/2021. Bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Xét, bà N có công việc và thu nhập ổn định, con chung hiện

đang sống chung với bà N. Do đó, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo và công dân có ích cho xã hội nên giao cháu T cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông Q1 cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thu N phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thu N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thu N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q1.
  • - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Khánh T, sinh ngày 09/7/2021 cho bà Nguyễn Thu N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
  • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thu N không yêu cầu ông Nguyễn Văn Q1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì

người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thu N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000158 ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Diễm Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thu N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger