TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/3/2025 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Ngọc Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 237/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2025/QĐ-ST ngày 10/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Quách Văn D1, sinh năm 1982
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ hiện nay: Đài Loan
Tại phiên toà, vắng mặt chị D có lý do(Có đơn xin xét xử vắng mặt), vắng mặt anh D1 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/12/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Quách Văn D1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có tổ chức cưới và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/12/2006.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị chỉ hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Sau đó, thì cuộc sống bắt đầu phát sinh mâu thuẫn cho đến ngày nay càng trở nên căng thẳng. Nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình giàn xếp nhưng vợ chồng không thể hàn gắn được. Anh D1 đã đi nước ngoài làm việc từ khoảng năm 2022, từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa.
Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị làm đơn này kinh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quách Văn D1.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 03 con chung là cháu Quách Gia N, sinh ngày 01/11/2007; cháu Quách Nguyễn Phương H, sinh ngày 13/01/2017 và cháu Quách Mai K, sinh ngày 28/8/2019. Nay ly hôn, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được nuôi cả 03 cháu và không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản thu thập chứng cứ tại nơi cư trú – Đại diện xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cung cấp như sau:
Anh Quách Văn D1 và chị Nguyễn Thị D kết hôn với nhau năm 2006 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Hai vợ chồng có 03 con chung là Quách Gia N, Quách Nguyễn Phương H, Quách Mai K. Anh D1 và chị D sinh sống ở thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 2022, anh D1 đi Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động. Từ đó đến nay các con đều ở tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa do mẹ là Nguyễn Thị D chăm sóc. Quá trình chung sống, hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn hay không địa phương không nắm được, do anh D1 và chị D không thông báo cho địa phương biết để hòa giải.
* Tại biên bản thu thập ý kiến của bà Vũ Thị Y(mẹ đẻ của bị đơn anh Quách Văn D1) – Thôn H, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình cung cấp như sau:
Bà Vũ Thị Y, sinh năm 1955 là mẹ ruột của anh Quách Văn D1. Bà trình bày như sau:
Anh Quách Văn D1 và chị Nguyễn Thị D kết hôn với nhau từ năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình kết hôn có xảy ra mâu thuẫn gì hay không thì bà không biết.
Hai vợ chồng có 03 con chung là: cháu Quách Gia N, sinh ngày 01/11/2007; cháu Quách Nguyễn Phương H, sinh ngày 13/01/2017 và cháu Quách Mai K, sinh ngày 28/8/2019. Hiện nay các cháu đang ở cùng mẹ là Nguyễn Thị D tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Anh Quách Văn D1 đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan từ năm 2022 đến nay. Anh D1 vẫn liên lạc về cho gia đình nhưng bà không biết địa chỉ. Ý kiến của bà là việc chị D xin ly hôn anh D1 có thể do anh D1 đi làm ở Đài Loan gần 03 năm, trong đó 02 năm đầu anh D1 vẫn gửi tiền về nhưng không có tiền tích góp nên khoảng 01 năm nay anh D1 không gửi tiền về, anh D1 có gọi về cho bà ý kiến rằng cần có anh D1 có mặt mới giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D:
Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Quách Văn D1.
Về con chung: Giao cháu Quách Gia N, sinh ngày 01/11/2007; cháu Quách Nguyễn Phương H, sinh ngày 13/01/2017 và cháu Quách Mai K, sinh ngày 28/8/2019 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Chị Nguyễn Thị D là nguyên đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Thanh Hoá; bị đơn là anh Quách Văn D1 đăng ký hộ khẩu tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa, hiện đang cư trú tại Đài Loan. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D và bị đơn anh Quách Văn D1 vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227 khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Quách Văn D1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị D đều trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu. Nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình giàn xếp nhưng vợ chồng không thể hàn gắn được. Anh D1 đã đi nước ngoài làm việc từ khoảng năm 2022, từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị D được ly hôn anh D1.
[2.2]. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Quách Gia N, sinh ngày 01/11/2007; cháu Quách Nguyễn Phương H, sinh ngày 13/01/2017 và cháu Quách Mai K, sinh ngày 28/8/2019. Chị D muốn nuôi cả 03 cháu và không yêu cầu anh D1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
Hiện nay anh D1 đang đi xuất khẩu lao động, 03 cháu ở nhà do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, để đảm bảo được việc học hành và sinh hoạt của các cháu nên cần giao 03 con cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và anh D1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị D. Sau này anh D1 về nước có nguyện vọng nuôi con thì khởi kiện bằng vụ kiện khác nếu có yêu cầu.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.
[3]. Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271, khoản 1 Điều 273; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; 56; 58; 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Quách Văn D1.
- Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Quách Gia N, sinh ngày 01/11/2007; cháu Quách Nguyễn Phương H, sinh ngày 13/01/2017 và cháu Quách Mai K, sinh ngày 28/8/2019.
Giao cháu Quách Gia N, cháu Quách Nguyễn Phương H và cháu Quách Mai K cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Quách Văn D1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị D.
Anh Quách Văn D1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo Biên lai thu số 0000772 ngày 23/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Quách Văn D1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Lâm |
Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hôn nhân gia đình.
- Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị D xin ly hôn anh D
