Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/11/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Dương
Ông Lê Doãn Giới
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Tòa án Tòa án khu vực 4 - Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát ND khu vực 4 - Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Xuân Hà, KSV

Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa( cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXX-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Trọng Th, sinh năm 1983. Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: thôn Ph, xã Hoằng T, tỉnh Thanh Hoá

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1985. Vắng mặt

Địa chỉ: thôn Ph, xã Hoằng T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2025, bản tự khai ngày 07/10/2025, nguyên đơn anh Trần Trọng Th thể hiện:

Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S tự nguyện kết hôn với nhau năm 2009, được UBND xã Hoằng T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau được 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh Th nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị S.

Về con: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S có 02(hai) con chung cháu tên là Trần Nguyễn Đức Mạnh, sinh ngày 02/2/2010; Trần Nguyễn Trí Cường, sinh ngày 21/12/2014. Ly hôn, anh Th có nguyện vọng nuôi hai cháu và không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản và công nợ: Anh Trần Trọng Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị S: Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng chị S vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà Lê Thị Ngọt( mẹ đẻ chị S) và bà Ngọt cam đoan có trách nhiệm giao thông báo lại cho chị S.

Tại biên bản ghi lời khai của bà Lê Thị Ngọt ngày 23/10/2025 thể hiện:

Chị Nguyễn Thị S và anh Trần Trọng Th tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng T cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2009. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau được 7 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ 6 đến 7 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh Th làm đơn xin ly hôn chị S đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, tôi( Ngọt) có trách nhiệm thông báo cho chị S( chị S cũng đã biết việc anh Th làm đơn xin ly hôn chị), tôi cam đoan giao tận tay cho chị S những văn bản tố tụng của Tòa án.

Về con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị S và anh Trần Trọng Th có 02 con chung cháu tên là Trần Nguyễn Đức Mạnh, sinh ngày 02/2/2010; Trần Nguyễn Trí Cường, sinh ngày 21/9/2014. Nay ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về cấp dưỡng: Chị S không yêu cầu Toà án giải quyết; Về tài sản: Chị S không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản khai của cháu Trần Nguyễn Đức Mạnh và cháu Trần Nguyễn Trí Cường các cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn Trần Trọng Th đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS. Bị đơn chị Nguyễn Thị S chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Về hôn nhân: Xử cho anh Trần Trọng Th được ly hôn chị Nguyễn Thị S.
  • Về con chung: Công nhận anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S có 02 con chung cháu tên là Trần Nguyễn Đức Mạnh, sinh ngày 02/2/2010; Trần Nguyễn Trí Cường, sinh ngày 21/9/2014. Từ khi vợ chồng sống ly thân hai cháu Mạnh, Cường ở với anh Th. Nay ly hôn anh Th có nguyện vọng nuôi con nên đề nghị giao cháu Trần Nguyễn Đức Mạnh và cháu Trần Nguyễn Trí Cường cho anh Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • Về cấp dưỡng: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • Về tài sản, công nợ: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Áp dụng Điều 144, khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015; Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 anh Trần Trọng Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Trọng Th khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị S và xin được nuôi con chung. Căn cứ vào quy định tại Điều 68 BLTTDS xác định anh Trần Trọng Th là nguyên đơn, chị Nguyễn Thị S là bị đơn.
    2. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị S có địa chỉ tại xã Hoằng T, tỉnh Thanh Hóa. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu khởi kiện của anh Trần Trọng Thuận thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
    3. Về quan hệ pháp luật: Anh Trần Trọng Th khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị S và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc lĩnh vực dân sự.

Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp mâu thuẫn theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, chính quyền địa phương xã Hoằng T xác nhận: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng T cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2009, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì có mâu thuẫn. Nguyên nhân, mâu thuẫn địa phương không nắm bắt được. Vợ chồng anh chị có 02( hai) con chung cháu tên là Trần Nguyễn Đức Mạnh, sinh ngày 02/2/2010; Trần Nguyễn Trí Cường, sinh ngày 21/9/2014.

Tại phiên tòa ngày 14/11/2025, bị đơn chị Nguyễn Thị S vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, chị S vắng mặt không có lý do, anh Th có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

  1. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S kết hôn với nhau năm 2009 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng T cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.
    2. Vợ chồng anh chị sống với nhau hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, không thể hòa giải được. Anh Th có nguyện vọng xin được ly hôn chị S. Chị S mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không đến làm việc theo giấy triệu tập thể hiện chị bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và anh Th không có mong muốn đoàn tụ. Do đó, HĐXX xét thấy tình cảm của anh, chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh Trần Trọng Th cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị S là phù hợp với tình trạng hôn nhân của anh chị.
    3. Về con chung: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S có 02(hai) con chung cháu tên là Trần Nguyễn Đức Mạnh, sinh ngày 02/02/2010; Trần Nguyễn Trí Cường, sinh ngày 21/9/2014.
    4. Xét yêu cầu nuôi con của anh Trần Trọng Th: Xét thấy, yêu cầu nuôi con của anh Th là phù hợp vì từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Trần Nguyễn Đức Mạnh và cháu Trần Nguyễn Trí Cường ở cùng với anh Th, anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Nên tiếp tục giao cháu Mạnh và cháu Cường cho anh Th tiếp tục nuôi dưỡng.
    5. Về cấp dưỡng: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  2. Về tài sản: Anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  3. Về án phí: Nguyên đơn là anh Trần Trọng Th phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51,56,57,58, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Về hôn nhân: Anh Trần Trọng Th được ly hôn chị Nguyễn Thị S.

Về con chung: Công nhận cháu Trần Nguyễn Đức Mạnh, sinh ngày 02/02/2010; Trần Nguyễn Trí Cường, sinh ngày 21/9/2014 là con chung của anh Trần Trọng Th và chị Nguyễn Thị S.

Giao cháu Trần Nguyễn Đức Mạnh và cháu Trần Nguyễn Trí Cường cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về pháp luật.

Chị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Anh Th và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu chị S lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Th có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị.

Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Trần Trọng Th phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000962 ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Anh Th đã nộp đủ số tiền án phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn anh Trần Trọng Th, bị đơn chị Nguyễn Thị S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND KV4 - Thanh Hóa;
  • - Chi cục THA tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng T;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh Trần Trọng Th xin được ly hôn chị Ng Thị Sơn và nuôi con.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger