|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Trần Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tiền
2. Bà Đinh Thị Thanh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 174/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đào Quang T, sinh năm 1987;
Địa chỉ: số A, ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1975;
Địa chỉ: số F, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Tất cả các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, các biên bản trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Đào Quang T trình bày:
Tôi và bà H tự nguyện chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2023, chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến cuối năm 2024 thì chúng tôi bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do sống chung không hợp nhau nữa, tôi và bà H không có tiếng nói chung. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay. Do không còn tình cảm với bà H nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H. Tôi không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn. Đối với yêu cầu của bà H yêu cầu tôi cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn với số tiền 1.500.000 đồng mỗi tháng là tôi không đồng ý.
Trước đây tôi làm giao cá tại Vũng Tàu, sau này mẹ bệnh và mất nên tôi về quê nhà tại ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre sinh sống cho đến nay đã gần 02 năm. Khi mẹ mất được khoảng nửa tháng là tôi xảy ra tai nạn giao thông nên bị thương tật ở cổ tay và bàn tay đến nay vẫn còn phải đi tái khám nên tôi không có công việc gì. Thu nhập chính của tôi hiện tại là từ vườn dừa khoảng 4 công của gia đình giao cho tôi chăm sóc và quản lý trên đất của mẹ tôi đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tiền thu nhập từ việc bán dừa thì tuỳ vào thời giá của trái dừa, thu nhập cao nhất là 3 đến 4 triệu đồng, thấp nhất là 1,5 đến 2 triệu đồng. Hiện tại tôi cũng ở một mình. Tôi quen biết và có tình cảm với bà H từ năm 2022, từ lúc mẹ tôi còn sống. Khi tôi bị tai nạn bà H cũng chăm sóc tôi và đến lúc bà H bị bệnh tôi cũng chăm sóc bà H đến khi bà H đi lại được nay đã gần 01 năm rồi. Sau khi bà H đi lại được thì chúng tôi mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn chứ không phải vì bà H bị bệnh mà tôi không còn thương bà H. Bà H lúc nào cũng ghen tuông cho rằng tôi có người khác bên ngoài nên cũng nói nặng nhẹ tôi đủ điều dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu ly hôn bà H. Bà H hiện tại cũng có 02 con gửi tiền chăm lo cuộc sống nên tôi không đồng ý cấp dưỡng cho bà H theo yêu cầu của bà H.
Về con chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng tôi chung sống thời gian ngắn nên chưa có tài sản chung gì hết, tất cả tài sản là của gia đình tôi. Sau khi kết hôn thì bà H mới về chung sống với tôi được hơn 01 năm thì vợ chồng đã ly thân rồi.
Tại biên bản hoà giải, bản tự khai, bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
Tôi thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống. Thời gian chung sống vợ chồng rất vui vẻ hạnh phúc. Từ tháng 12 âm lịch năm 2024 thì ông T nói là chở tôi về nhà mẹ chơi nhưng sau đó bỏ tôi luôn không thấy đến rước về. Sau đó tôi bắt xe xuống dưới thì phát hiện ông T có quan hệ với người khác bên ngoài nên không còn quan tâm đến tôi nên tôi giận bỏ về luôn đến nay ông T cũng không hề liên lạc gì với tôi. Việc ông T có người khác thì tôi phát hiện một lần đó, ngoài ra tôi còn có các chứng cứ trong điện thoại tôi tôi sẽ cung cấp tiếp cho Toà. Nay ông T lại nộp đơn xin ly hôn thì tôi không đồng ý ly hôn do tôi còn thương ông T, sống chung ông T tôi không hề có lỗi lầm gì với ông T hết, nay do ông T có tình cảm với người khác mà thay đổi không còn yêu thương gì tôi và cũng do tôi bị bệnh tai biến nên không còn thương yêu tôi nữa. Do hiện tại tôi bị bệnh tai biến, đi lại rất khó khăn mà ông T xin ly hôn tôi nên nếu ly hôn tôi yêu cầu ông T cấp dưỡng vợ chồng cho tôi mỗi tháng 1.500.000 đồng sau khi ly hôn. Hiện tại tôi ở với mẹ tôi đã 76 tuổi không còn khả năng lao động, mẹ có thu nhập từ vườn bưởi để sống nên tôi không phải nuôi mẹ. Nguồn thu nhập chính của tôi hiện tại là từ số tiền 02 đứa con gái tôi cho mỗi tháng được 1.500.000 đồng, tôi gói gém sinh hoạt những nhu cầu thiết yếu của tôi trong khoảng tiền này trong khoảng thời gian ly thân ông T không ai chăm sóc tôi. 02 con tôi đã có gia đình tư riêng rồi nên cũng không thể chăm sóc tôi suốt được nên tôi yêu cầu ông T cấp dưỡng cho tôi đến khi nào tôi hết bệnh có thể tự lo cho bản thân.
Về thu nhập của ông T thì có vườn dừa của mẹ ông để lại là đúng, nhưng ông được quản lý 5,5 công dừa chứ không phải 4 công, phần 1,5 công dừa này là của anh ông T cho ông T thu hoạch lấy tiền để chăm sóc tôi lúc tôi bị bệnh mà nay ông T không còn chăm sóc gì tôi nữa. Tiền bán dừa mối tháng cao nhất cũng được 4 đến 5 triệu đồng, thấp nhất cũng được 2 triệu đồng do lúc còn chung sống tôi có quản lý tiền thu hoạch dừa nên biết. Ngoài ra ông T còn đi bắt ong nên có thêm thu nhập từ mật ong nữa. Ông T hiện tại có ở với ai hay không thì tôi không biết nhưng ông T đã có người khác bên ngoài nên thay đổi chứ trước đây vợ chồng vẫn hạnh phúc bên nhau. Tôi biết ông T không còn thương tôi nhưng tôi cũng không có cách nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Thời gian chung sống, mẹ ông T có hứa cho đất nhưng nay mẹ ông T chết rồi nhưng chưa sang tên. Tôi đã nhận được thông báo của Toà án nhưng không có chứng cứ gì chứng minh nên không yêu cầu xem xét.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo quy định của pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: anh T có yêu cầu ly hôn, chị H không đồng ý ly hôn nhưng cũng xác định không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T. Về yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của bà H theo quy định của pháp luật. Về con chung: không có nên không xem xét. Về tài sản chung: tự thoả thuận; nợ chung: anh T và H khai không có nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa, Viện kiểm sát phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Đào Quang T có đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Thúy H tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để yêu cầu giải quyết về việc xin ly hôn. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy H có nơi cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về hôn nhân: Anh T và chị Huỳnh C sống với nhau vào năm 2023 trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/11/2023 là phù hợp với quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh T và chị H lúc đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh T trình bày là do chị H ghen tuông, ràng buộc anh T mọi việc nên hai vợ chồng thường xuyên bất hòa nên anh không thể tiếp tục chung sống với chị H được nữa. Anh và chị H đã ly thân từ tháng 12/2024 âm lịch cho đến nay, thời gian ly thân hai bên cũng không thể hàn gắn tình cảm vì chị H ghen tuông vô cớ hơn. Anh T xác định không còn tình cảm với chị H nên anh yêu cầu xin được ly hôn với chị H. Chị H cho rằng anh chị không có xảy ra mâu thuẫn gì hết cuộc sống vợ chồng vẫn hạnh phúc nhưng do anh T đã có tình cảm người khác bên ngoài nên không còn yêu thương gì chị, chị trình bày nhưng chị không có chứng cứ gì để chứng minh về việc anh T có người khác. Chị H cho rằng do chị bị bệnh nên anh T mới có người khác bên ngoài rồi thay đổi như vậy chứ chị còn rất yêu thương anh T nên chị không đồng ý ly hôn dù chị xác định là chị và anh T không thể hàn gắn tình cảm được. Anh T xin ly hôn là chị không đồng ý. Qua quá trình xác minh thể hiện giữa hai vợ chồng anh T và chị H có xảy ra mâu thuẫn là đúng và hiện nay anh chị đã sống ly thân nên đời sống vợ chồng đã không còn hạnh phúc nữa. Anh T xác định không còn tình thương với chị H nên yêu cầu ly hôn; chị H không đồng ý ly hôn nhưng cũng xác định không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không đưa ra được biện pháp hàn gắn. Điều đó chứng tỏ rằng tình trạng hôn nhân của anh T và chị H đã có mâu thuẫn trầm trọng, tình thương đã không còn, mục đích hôn nhân của anh T và chị H không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn nên ghi nhận. Chị H yêu cầu anh T sau khi ly hôn phải cấp dưỡng cho chị H số tiền 1.500.000 đồng, tại phiên toà chị thay đổi yêu cầu cấp dưỡng cụ thể yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị H mỗi tháng là 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng là 01 năm tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Anh T không đồng ý mức này mà chỉ đồng ý mức cấp dưỡng mỗi tháng 500.000 đồng và anh đồng ý cấp dưỡng 1 lần là 6.000.000 đồng. Xét thấy, hiện tại theo lời trình bày của anh T là anh vẫn có thu thập, anh T thừa nhận chị H không thể lao động và không thể tự nuôi sống bản thân mà phải xin tiền từ con gái nên việc xem xét buộc anh T thực hiện việc cấp dưỡng cho chị H là phù hợp để tạo điều kiện cho chị H hồi phục vì hiện tại chị còn phải đi tái khám điều trị sau tai biến, yêu cầu cấp dưỡng này của chị H cũng là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận. Buộc anh T cấp dưỡng cho chị H mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng là 12 tháng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về con chung: Không có nên Toà án không xem xét.
[4] Về tài sản chung: anh T khai không có; chị H khai tự thoả thuận nên Toà án không xem xét; về nợ chung: anh T và chị H cùng khai không có, nên Tòa án không xét đến.
[5] Về án phí: Anh T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
[6] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 25, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Quang T đối với chị Nguyễn Thị Thúy H.
- Về hôn nhân: Cho anh Đào Quang Trứ ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy H. Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận anh T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn. Buộc anh T cấp dưỡng cho chị H mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng. Thời gian cấp dưỡng là 12 (mười hai tháng) tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.
- Về tài sản chung: anh T khai không có; chị H khai tự thoả thuận nên Toà án không xem xét; về nợ chung: anh T và chị H cùng khai không có nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0009971 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng với số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và còn phải nộp số tiền này.
- Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trần Phương Thảo |
Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
