|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 02 - 2025 V/v tranh chấp xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
———
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Duyên Văn Hiền
Bà Lê Trường An
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 02 năm 20254, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 696/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 551/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1957 (Xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp V, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp V, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:
- Về hôn nhân: Ông và bà Trần Thị M cưới nhau vào khoảng năm 1979, hôn nhân tự nguyện, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống địa phương và sống chung với nhau như vợ chồng từ thời điểm đó đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do tính tình không phù hợp, thường xuyên cãi nhau nhưng vì con cháu nên cố gắng hàn gắn, đỉnh điểm của mâu thuẫn vợ chồng là vào khoảng năm 2022, sau đó ông bỏ nhà đi và vợ chồng đã sống ly thân 03 năm nay. Nay xét thấy vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn và chung sống được với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ông ly hôn với bà M.
- Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thu T, sinh năm 1982 và Nguyễn Minh Q1, sinh năm 1987. Hiện các con đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn bà Trần Thị M, quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng bà M vắng mặt và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Trần Thị M hiện đang cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là bà Trần Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, ông Nguyễn Văn Q yêu cầu xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q và bị đơn bà Trần Thị M cưới nhau vào năm 1979 chung sống như vợ chồng với nhau từ thời điểm đó cho đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (Có đơn xin xác nhận về việc không đăng ký kết hôn của ông Nguyễn Văn Q được UBND xã P xác nhận). Hội đồng xét xử xét thấy, ông Q và bà M xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 nên là hôn nhân thực tế, vẫn được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Xét về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn thì ông Q xác định do tính tình của vợ chồng không phù hợp, thường xuyên cãi nhau và đã ly thân 03 năm nay, ông Q xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống nên ông yêu cầu Toà án giải quyết cho ông ly hôn với bà Trần Thị M. Trong khi đó, bà Trần Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến phản hồi, điều đó cho thấy bà M không có thiện chí để hàn gắn quan hệ vợ chồng với ông Q.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của ông Q và bà M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Q, cho ông Q ly hôn với bà M là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Con chung của các đương sự đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn Q xác định vợ chồng tự thoả thuận đối với tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Trần Thị M thì vắng mặt và không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền án phí thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo quy định điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho ông Q.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 228, 235, khoản 2 Điều 244 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 53, Điều 56 và 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q, cho ông Nguyễn Văn Q ly hôn với bà Trần Thị M.
2. Về con chung: Đã trưởng thành.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét trong vụ án này. Trường hợp sau này nếu có phát sinh tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Q được miễn nộp tạm ứng và miễn án phí theo quy định.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn do mâu thuẫn gia đình và hôn nhân thực tế trước 1987
