Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 13/6/2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Kỳ Trung.

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã

Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham

gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1988; vắng mặt.
  • Cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
  • - Bị đơn: anh Võ Văn Â, sinh năm 1984; vắng mặt.
  • Cư trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

Chị và anh Võ Văn  chung sống với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 107 ngày 30/12/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà riêng của chị và cùng làm công nhân. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn về kinh tế gia đình, anh  không có trách nhiệm với gia đình, không phụ giúp chị lo lắng chi tiêu và chăm sóc, nuôi dạy con cái. Trong quá trình chung sống, anh  thường xuyên bỏ nhà đi, không quan tâm đến vợ, con; chị khuyên can nhiều lần nhưng anh  vẫn không thay đổi. Vợ chồng chị đã tự ly thân từ tháng 3/2024 đến nay, không còn chung sống và quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí hàn gắn. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh Â.

Về con chung: vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Võ Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 06/3/2023 hiện đang sống chung với chị. Cháu H rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh gì. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H; không yêu cầu anh  cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng chị có nợ Ngân hàng N - Chi nhánh thị xã T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Chị đã cam kết trả toàn bộ số nợ theo kỳ hạn cho Ngân hàng nên chị không yêu cầu anh  cùng chị thanh toán khoản nợ vay này. Ngoài ra, vợ chồng chị không còn nợ ai.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh Võ Văn  đến Toà án lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh  đều vắng mặt nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh Â.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T đối với anh Võ Văn Â. Chị T được ly hôn anh Â.

Về con chung: đề nghị giao cháu Võ Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 06/3/2023 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh  cấp dưỡng nuôi con. Anh  có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: chị T, anh  không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: ghi nhận Ngân hàng N - Chi nhánh thị xã T không yêu cầu chị T, anh  có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trong vụ án này.

Về án phí: chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Võ Văn  đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh  tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng chị T, anh  đã tự ly thân từ tháng 3/2024 đến nay, không còn chung sống với nhau. Nay chị T yêu cầu được ly hôn anh Â.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ anh  nhiều lần nhưng anh  đều vắng mặt, không gửi bản tự khai cho Tòa án, cho thấy anh  không có thiện chí hàn gắn cùng chị T. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, chị T đều giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, không muốn hàn gắn với anh Â, cho thấy đời sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ giữa chị T và anh  đã không còn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Â, cho chị T được ly hôn anh  là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: vợ chồng chị T, anh  có 01 con chung là cháu Võ Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 06/3/2023. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục dưỡng cháu H. Xét thấy từ khi chị T và anh  ly thân thì cháu H theo sống cùng chị T, cháu H phát triển rất tốt về mặt thể chất lẫn tinh thần. Do đó, để đảm bảo được sự phát triển toàn diện và ổn định về tinh thần, nơi ở của cháu H, Hội đồng xét xử giao cháu H cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận chị T không yêu cầu anh  cấp dưỡng nuôi con. Anh  có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: chị T, anh  không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng chị T, anh  có nợ Ngân hàng N - Chi nhánh thị xã T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T đã cam kết trả nợ theo đúng kỳ hạn, không yêu cầu anh  cùng trả nợ cho Ngân hàng; đồng thời tại Công văn số: 59/NHNo.TXTBTN-PKH ngày 29/3/2025, Ngân hàng N - Chi nhánh thị xã T đã có ý kiến từ chối tham gia tố tụng và không yêu cầu chị T, anh  có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận, không đặt ra giải quyết.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T đối với anh Võ Văn Â.

    Chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn anh Võ Văn Â.

  2. Về con chung: giao cháu Võ Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 06/3/2023 cho chị Nguyễn Thị Ngọc T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Ghi nhận chị T không yêu cầu anh  cấp dưỡng nuôi con.

    Anh  có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: chị T, anh  không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
  4. Về nợ chung: ghi nhận Ngân hàng N - Chi nhánh thị xã T không yêu cầu chị T, anh  có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng trong vụ án này.
  5. Án phí: chị Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012152 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Chị T, anh  có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - UBND phường Lộc Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Thị Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc Tr ly hôn Võ Văn A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger