Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

Số: 50/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/6/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Tô Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 126/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện,bản tự khai cùng tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

- Chị và anh C tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 02/5/1997. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại gia đình anh C ở thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh C có tính vũ phu đánh đập chị, phá đồ đạc trong gia đình. Từ tháng 4/2025, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình sinh sống. Từ đó, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, yêu thương nhau nữa.

Nay chị xác định không còn tình cảm với anh C, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

- Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là Nguyễn Minh S ngày 10/01/1997 (đã thành niên) và Nguyễn Văn D sinh ngày 23/10/2007, hiện đang sống cùng chị. Chị N đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung Nguyễn Văn D cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản: Vợ chồng chị không có nợ chung; chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Tại biên bản xác minh ngày 20 tháng 5 năm 2025, Ủy ban nhân dân xã T cung cấp:

Chị N và anh C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 02/5/1997. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa phương. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Hiện chị N và anh C đã sống ly thân. Anh C vẫn cư trú, sinh sống tại địa phương; chưa tách khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác. Nay chị N làm đơn ly hôn anh C, địa phương đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái, nếu không được đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định pháp luật để giải quyết.

Chị N và anh C có hai con chung là Nguyễn Minh S ngày 10/01/1997 và Nguyễn Văn D sinh ngày 23/10/2007. Nếu anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật, điều kiện của các bên, nguyện vọng của con chung để giải quyết đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên địa phương không có ý kiến.

* Tại biên bản xác minh ngày 20 tháng 5 năm 2025, bà Bùi Thị N1 là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn C trình bày:

Anh C và chị N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại gia đình anh C được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Hiện anh chị đã sống ly thân, anh C làm nghề lao động tự do tại địa phương. Chị N làm đơn xin ly hôn, anh C biết nhưng không có thời gian đến Tòa án làm việc. Nguyện vọng của gia đình muốn anh chị đoàn tụ, nếu không được thì đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Anh C và chị N có hai con chung là Nguyễn Minh S ngày 10/01/1997 và Nguyễn Văn D sinh ngày 23/10/2007. Đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con theo quy định pháp luật.

Quá trình chung sống, anh C và chị N có tài sản chung hay không, gia đình không nắm được.

Bà N1 đồng ý nhận các văn bản, tài liệu của Tòa án và cam kết sẽ giao lại cho anh C.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH: Xử cho chị N được ly hôn anh C. Giao con chung Nguyễn Văn D sinh ngày 23/10/2007 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nên không đặt ra giải quyết. Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Văn C có nơi cư trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị N, anh C phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không có biện pháp để hàn gắn quan hệ hôn nhân, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị N được ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Chị N và anh C có hai con chung là Nguyễn Minh S ngày 10/01/1997 (đã thành niên) và Nguyễn Văn D sinh ngày 23/10/2007, hiện đang sinh sống cùng chị N. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn D và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Con chung Nguyễn Văn D cũng có nguyện vọng được sinh sống cùng chị N.

Chị N trình bày và cung cấp cho Tòa án, hiện tại chị có công việc, thu nhập ổn định hàng tháng là 7.000.000 (bảy triệu) đồng, có chỗ ở ổn định, đảm bảo việc nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con chung, trên cơ sở xem xét nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao con chung Nguyễn Văn D cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định pháp luật.

[5] Về quan hệ tài sản: Chị N xác định vợ chồng không có nợ chung, chị không yêu cầu giải quyết về tài sản do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn D sinh ngày 23/10/2007 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Chị N, anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật khi cần thiết.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000899 ngày 14/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - UBND xã Thụy Liên;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger