Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;
  2. Ông Phạm Hồng Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa:

Ông Phan Hoàng Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 409/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 61/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ A, ấp E, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ C, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà và ông Trần Văn S tự tìm hiểu tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, cả hai thường xuyên xảy ra cự cãi, ông S mê cờ bạc, nợ nần mặc dù bản thân bà và gia đình có khuyên ngăn nhưng ông S không từ bỏ, hàn gắn tình cảm nhưng không thành và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn tình cảm nên bà yêu cầu được ly hôn ông Trần Văn S.

- Về con chung: Có 02 con chung.

  1. Trần Văn M, sinh ngày 20/4/2018.
  2. Trần Minh H, sinh ngày 24/02/2020.

Hiện con chung đang sống với bà G, khi ly hôn bà G yêu cầu được nuôi các con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng bà G không đồng ý đoàn tụ chung sống.

Tại phiên toà, bà G giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn ông Trần Văn S; yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ông Trần Văn S được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị G đối với ông Trần Văn S; giao con chung cháu Trần Văn M, sinh ngày 20/4/2018, cháu Trần Minh H, sinh ngày 24/02/2020 cho bà Nguyễn Thị G tiếp tục nuôi; ông Trần Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị G khởi kiện xin được ly hôn với ông Trần Văn S có nơi cư trú tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Trần Văn S được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn S theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị G và ông Trần Văn S do tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, cả hai thường xuyên xảy ra cự cãi, ông S mê cờ bạc, nợ nần mặc dù bản thân bà và gia đình có khuyên ngăn nhưng ông S không từ bỏ, hàn gắn tình cảm nhưng không thành từ đó hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau từ năm 2018 cho đến nay.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh người thân, địa phương xác định nguyên nhân mâu thuẫn đúng như lời bà Nguyễn Thị G trình bày.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà G, ông S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn M, sinh ngày 20/4/2018 và Trần Minh H, sinh ngày 24/02/2020. Bà Giàu C yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy từ khi bà G, ông S không chung sống với nhau thì bà G trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con. Nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống, sự phát triển bình thường của các cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con chung sau khi ly hôn của bà Nguyễn Thị G.

Công nhận sự tự nguyện của bà G không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Trần Văn S.

- Về con chung: Giao cháu Trần Văn M, sinh ngày 20/4/2018 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 24/02/2020 cho bà G tiếp tục nuôi dạy.

Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008800 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu (bà G đã nộp đủ).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Giàu C quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn S có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tx.Tân Châu;
  • - Chi cục THADS Tx.Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ G LY HÔN TRẦN VĂN S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger