Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09-6-2025

V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI

NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành .

2. Ông Lê Văn Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Lê Thái D, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa, nguyên đơn (chị H) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh D kết hôn ngày 30/3/2009, tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới. Vợ chồng sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, xích mích, va chạm. Từ tháng 7/2018 chị chuyển về sống tại xóm H, L, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 22/4/2025, bà Lê Thị X là mẹ đẻ của anh Lê Thái D cung cấp: Anh D kết hôn với chị H, hai gia đình có tổ chức lễ cưới hỏi. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H có về ở cùng bà tại xã C, huyện Đ, sau đó 2 vợ chồng đi Trung Quốc làm ăn. Đến cuối tháng 8/2024 hai vợ chồng về nước và đi làm thời vụ ở công ty, hai vợ chồng đi làm chứ không ở cố định ở nhà bà. Từ sau têt chị H bỏ đi làm ăn ở đâu bà không biết. Còn anh D cũng đi làm ăn nhưng không nói cho bà biết đi đâu, làm gì, nhưng anh D vẫn liên lạc về với gia đình. Anh D, chị H không có con chung; bà không rõ mâu thuẫn của anh D, chị H như thế nào. Bà chỉ biết chung sống với nhau 16 năm không có con.

Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh D vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35 và Điều 39, các Điều 147, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào các Điều 51, 56, của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị H được ly hôn anh D. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn anh Lê Thái D có nơi cư trú tại phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa vắng mặt anh D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

2.1. Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Thái D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 30/3/2009 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên); vì vậy được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn, do không cùng quan điểm sống; hiện nay đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Do đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh D là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật.

2.2. Con chung: Chị H xác định không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

[3] Án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Lê Thái D.

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Lê Thái D.
  2. Về nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  4. Án phí: Chị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000774 ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
  5. Quyền kháng cáo: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với nguyên đơn, bị đơn.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPTN;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THA TPTN;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND xã Vô Tranh, huyện Phú Lương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ; VP, TK, TP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Ngọc Linh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Linh

Quyền kháng cáo: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với các đương sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger