|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 50/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/6/2025
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Đông Nguyệt và ông Lưu Dũng Hà
-Thư ký phiên tòa: Lê Vũ Trang Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hưng-Kiểm sát viên.
Ngày 04/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 14/2025/TLST- HNGĐ ngày 17/01/2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXX-ST ngày 14/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1989
Trú tại: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Bùi Quốc H1, sinh năm 1987
Trú tại: 1 N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị H và ông Bùi Quốc H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B vào năm 2015. Cuộc sống chung không có hạnh phúc, bất đồng quan điểm, không chăm lo cuộc sống gia đình nên vợ chồng không còn tiếng nói chung. Trước đây bà H có từng làm đơn ly hôn nhưng vì nghĩ đến con cái, gia đình nên tạo điều kiện để ông H1 thay đổi nhưng nhưng không được, nên bà không thể chịu đựng được nữa. Hai bên đã ly thân và không còn chung sống với nhau. Nay bà H không còn tình cảm và yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: có 02 con chung là Bùi Thanh C, sinh ngày 17/5/2016 và Bùi Minh C1, sinh ngày 05/6/2019. Bà H yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung
- Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị H; Về con chung: Giao 02 con chung cho bà H nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xét; Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên không xét; Về án phí: nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị H và ông Bùi Quốc H1 tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2015, được UBND phường B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 64, quyển số 01/2015 ngày 21/8/2015 là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống ban đầu hạnh phúc được thời gian đầu thì xảy ra những mâu thuẫn trong gia đình, nên hai bên không còn chung sống cùng nhau, mạnh ai nấy sống. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau” nhưng ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, không còn tiếng nói chung. Quá trình thụ lý giải quyết bà H vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn ông H1 đã được triệp tập để Tòa án tiến hành tổ chức hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng ông vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy ông H1 không có thiện chí muốn trở về chung sống với bà H. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà H và ông H1 không đạt được, tình cảm hai bên đã rạn nứt không thể hàn gắn. Do đó cần chấp nhận đơn khởi kiện của bà H.
[2.2] Về con chung: Có 02 con chung Bùi Thanh C, sinh ngày 17/5/2016 và Bùi Minh C1, sinh ngày 05/6/2019. Cháu Bùi Thanh C trình bày nguyện vọng muốn ở với bà H. Tại phiên tòa, bà H yêu cầu được nuôi hai con nên cần chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng vào các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
-Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trịnh Thị H được ly hôn ông Bùi Quốc H1.
-Về con chung: Giao bà Trịnh Thị H trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục hai con chung Bùi Thanh C, sinh ngày 17/5/2016 và Bùi Minh C1, sinh ngày 05/6/2019 (phù hợp với nguyện vọng của cháu Bùi Thanh C, hiện nay các con đang ở với bà H).
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
-Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí : Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nguyên đơn bà Trịnh Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005764 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hoa Dung |
Nơi nhận:
- - Người TGTT;
- -VKSND TP. Tuy Hòa;
- -Chi cục THADS. TP. Tuy Hòa;
- -TAND tỉnh Phú Yên;
- -Lưu hồ sơ vụ án.
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp “ly hôn”
- Số bản án: 50/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Ly hôn”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
