Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do -Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/DS-ST

Ngày: 27/6/2025

V/v Tranh chấp thừa kế, yêu cầu hủy

GCNQDĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang; Ông Phạm Công Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:

Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2024/TLST-DS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế, yêu cầu hủy GCNQSDĐ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QÐST-DS ngày 19/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Đức M, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Vũ Thị D, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Vũ Thị H, sinh năm 1949; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Bà Vũ Thị T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm N, thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Ông Vũ Đình X, sinh năm 1963; Địa chỉ: Đ, thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Bà Vũ Thị X1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Đ, thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Bà Vũ Thị N, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Bà Phan Thị M1, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Chị Vũ Thị M2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số D, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  • + Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Anh Vũ Đức H2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
  • + Chị Vũ Thị H3, sinh năm 1985: Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Chị Vũ Thị P (tên gọi khác Vũ Thị H4), sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Y: Anh Vũ Đức M, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
  • + Chị Vũ Thị S, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + UBND huyện T, tỉnh Hải Dương; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế T2 - Chủ tịch UBND huyện; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T3 – Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện T; Địa chỉ: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Thế T4 - Chủ tịch UBND xã T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn anh Vũ Đức M trình bày: Anh khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Chia di sản thừa kế của ông bà nội anh cụ Vũ Đức D1, cụ Vũ Thị D2 (tên gọi khác Cao Thị B) là quyền sử dụng đất thửa đất số 122, tờ bản đồ 02, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) do UBND huyện T đã cấp cho bà Vũ Thị D đối với thửa đất số 122, tờ bản đồ 02. Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của anh:

Ông bà nội anh là Cụ Vũ Đức D1, sinh năm 1935, chết ngày 18/02/1976 và cụ Vũ Thị D2 (tên gọi khác Cao Thị B), sinh năm 1927, chết ngày 31/5/1998. Hai cụ sinh được 8 người con gồm: Bà Vũ Thị H; Ông Vũ Đức S1 (Ông S1 sinh năm 1953, chết ngày 26/12/1985 có vợ là bà Phan Thị M1 và 03 người con là chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1); Ông Vũ Đức H5 (Ông H5 sinh năm 1955, chết ngày 21/3/1992, có vợ là bà Vũ Thị D và 03 người con là Vũ Đức H2, Vũ Thị H3, Vũ Thị P); Ông Vũ Đức M3 (sinh năm 1957, chết ngày 08/5/2018, có vợ là bà Phạm Thị Y có 01 người là anh Vũ Đức M); Bà Vũ Thị T; Ông Vũ Đình X; Bà Vũ Thị X1; Bà Vũ Thị N. Bố mẹ đẻ của cụ D2, cụ B đều đã chết từ lâu, chết trước hai cụ. Ngoài 8 người con đẻ hai cụ không có con nuôi, con riêng nào khác. Các cụ chết không để lại di chúc.

Thửa đất 122 tờ bản đồ số 02 hiện bà D đang quản lý sử dụng, nguồn gốc là của cụ D2, cụ B, khi các con còn nhỏ đều ở trên đất cùng hai cụ, đến khi lập gia đình mới ra ở riêng. Khi cụ Vũ Đức D1 chết, cụ Cao Thị B là người quản lý, sử dụng thửa đất, bà Vũ Thị H và vợ chồng ông H5, bà D ở trên đất cùng cụ. Năm 1992 ông H5 chết, năm 1998 cụ B chết, bà D, bà H vẫn ở trên thửa đất đó cho đến nay. Từ khi các cụ chết, gia đình chưa thỏa thuận phân chia thừa kề mà vẫn để cho mẹ con bà D, bà H sử dụng. Năm 2022 bà D đến xin chữ ký của mẹ con anh, mục đích làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho anh Vũ Đức H2. Đến lúc đó anh mới biết thửa đất của hai cụ đã được cấp GCNQSDĐ cho bà D. Anh và các cô chú đã nói chuyện với bà D để lại cho anh khoảng 79m² đất, mọi người sẽ cùng đóng góp xây dựng 01 ngôi nhà thờ nhưng bà D không đồng ý nên dẫn đến tranh chấp. Đến nay anh đề nghị Tòa án phân chia thừa kế thửa đất theo quy định của pháp luật, phần di sản anh được hưởng và phần được ông X, bà X1 tặng cho anh đề nghị giao cho bằng hiện vật. Đối với di sản của cụ Vũ Đức D1 anh không đề nghị áp dụng thời hiệu, đề nghị chia thừa kế theo pháp luật.

Theo GCNQSDĐ cấp cho bà D thì diện tích của thửa đất là 279m² đất ở, theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ diện tích có thay đổi anh nhất trí đề nghị giải quyết theo diện tích hiện trạng, về phần đất thuộc đất giao thông, đất dôi dư thuộc quản lý của UBND xã T đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Vũ Thị D trình bày: Về nội dung về thời điểm mất, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ D1, cụ B, ông S1, ông H5, ông M3 như anh M đã trình bày bà xác định là đúng, không có ý kiến gì khác. Nguồn gốc thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02 là của bố mẹ chồng bà - cụ D1, cụ B. Ông S1 là anh cả lấy vợ được bố mẹ mua đất cho ra ở riêng, ông M3 làm việc ở Quảng Ninh nên không về ở đất của bố mẹ. Năm 1976 cụ D1 mất, năm 1978 bà kết hôn với ông H5 về ở trên đất cùng cụ B. Một thời gian sau ông X lấy vợ và cũng ở trên đất của cụ B. Theo chủ trương thời kỳ đó nếu có 3 cặp vợ chồng cùng chung sống thì sẽ được cấp đất ra ở riêng, bà đã đến UBND xã xin cấp đất, Sau khi được UBND xã cấp đất thì gia đình thống nhất để cho vợ chồng ông X ra ở riêng, vợ chồng bà ở lại đất của bố mẹ và phải hỗ trợ cho ông X 350.000đ. Sau đó vợ chồng ông X chuyển ra ở riêng chỉ có vợ chồng bà ở trên đất cùng cụ B. Năm 1992 ông H5 mất. Năm 1997 bà H là chị gái lớn không lấy chồng nghỉ chế độ cũng về ở trên đất cùng bà. Sau đó nhà nước thực hiện đo đạc, cấp GCNQSDĐ, cụ B đã đề nghị UBND xã kê khai thửa đất và cấp GCNQSDĐ cho bà. Năm 1998 cụ B chết, bà là người quản lý thửa đất cho đến nay, toàn bộ các tài sản trên đất hiện nay đều là của bà. Đến nay quan điểm của bà xác định thửa đất số 122 nguồn gốc là của cụ D1, cụ B. Nhưng khi cụ B còn sống đã cho bà, bà đã thực hiện kê khai và được cấp GCNQSDĐ nên xác định toàn bộ thửa đất là tài sản của bà. Trường hợp Tòa án xác định thửa đất nêu trên vẫn là di sản thừa kế thì đề nghị giải quyết theo pháp luật, đề nghị xem xét công sức trông non, tôn tạo thửa đất của bà. Toàn bộ phần di sản, công sức bà được nhận bà tự nguyện cho anh Vũ Đức H2. Đối với di sản của cụ Vũ Đức D1 bà không đề nghị áp dụng thời hiệu, đề nghị chia thừa theo pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị N, bà Phan Thị M1, chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1, anh Vũ Đức H2, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị P trình bày: Về nội dung về thời điểm mất, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ D1, cụ B, ông S1, ông H5, ông M3 như anh M đã trình bày là đúng, không có ý kiến gì khác. Thừa nhận thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02 nguồn gốc là của cụ D1, cụ B. Thời điểm cụ B còn sống đã nói cho bà D thửa đất và bà D đã được cấp GCNQSDĐ nên xác định là tài sản của bà D. Trường hợp Tòa án xác định thửa đất nêu trên vẫn là di sản thừa kế thì đề nghị giải quyết theo pháp luật. Đối với phần di sản các bà, các chị được nhận tự nguyện tặng cho anh Vũ Đức H2. Đối với di sản của cụ Vũ Đức D1 không đề nghị áp dụng thời hiệu. Bà Vũ Thị H đề nghị xem xét công sức trông nom di sản thừa kế, phần được trích trả công sức bà H tự nguyện tặng cho anh H2.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị X1, ông Vũ Đình X trình bày: Nhất trí với quan điểm, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định thửa đất 122, tờ bản đồ số 02 nguồn gốc là của cụ D1, cụ B. Sau khi cụ D1 chết, cụ B là người quản lý sử dụng thửa đất, vợ chồng ông H5, bà D ở trên đất cùng cụ. Năm 1987 ông X lấy vợ cũng ở cùng với cụ B. Khoảng 5 năm sau gia đình được UBND xã cấp 1 thửa đất để tách hộ. Ông H5 là con lớn đáng lý phải ra riêng nhưng ông H5 không ra, do đó vợ chồng ông X chuyển ra ở trên thửa đất được UBND xã cấp. Năm 1992 ông H5 chết, năm 1998 cụ B chết, bà D là người quản lý sử dụng thửa đất, bà H không có chồng con nên cũng về ở trên đất cùng bà D. Từ thời điểm các cụ chết đến nay gia đình chưa thỏa thuận phân chia thừa kế. Anh M khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đề nghị Tòa án phân chia thừa kế theo pháp luật. Phần di sản ông bà được hưởng, ông bà tự nguyện tặng cho anh Vũ Đức M. Đối với di sản của cụ Vũ Đức D1 không đề nghị áp dụng thời hiệu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Y trình bày: Nhất trí với yêu cầu khởi kiện và các quan điểm trình bày của anh M. Đối với phần di sản bà được hưởng bà tự nguyện tặng cho anh M. Đối với di sản của cụ Vũ Đức D1 không đề nghị áp dụng thời hiệu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị S trình bày: Chị là vợ của anh Vũ Đức H2. Sau khi chị và anh H2 kết hôn thì ở cùng với bà D. Do nhà ở chật, xuống cấp, bà D đã tu sửa, xây dựng thêm tầng 2. Chị và anh H2 có đóng góp tiền cho bà D tuy nhiên xác định toàn bộ đất và tài sản trên đất là của bà D, chị không có yêu cầu gì. Bà D có quan điểm tặng cho anh H2 toàn bộ tài sản trên đất chị nhất trí không có ý kiến gì.

UBND huyện T trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy GCNQSDĐ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định. Do đặc thù công việc nên đề nghị được vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa.

Theo biên bản xác minh, biên bản làm việc và các tài liệu do UBND xã T cung cấp thể hiện:

  • - Cụ Vũ Đức D1, sinh năm 1935; chết ngày 18/02/1976. Cụ Vũ Thị D2, sinh năm 1927; chết ngày 31/05/1998. Cụ Vũ Đức D1 và cụ Vũ Thị D2, có 8 người con là: bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức S1, ông Vũ Đức H5, ông Vũ Đức M3, bà Vũ Thị T, Vũ Đình X, Vũ Thị X1, Vũ Thị N. Bố mẹ đẻ của cụ Vũ Đức D1 là: cụ Vũ Thị T5 và cụ Vũ Đức Đ. Bố đẻ của cụ Vũ Thị D2 ( tên gọi khác là Cao Thị B) là Cao Đình Q, còn mẹ đẻ của cụ B địa phương không rõ tên. Bố mẹ đẻ của cụ D2, cụ B đều đã chết từ lâu, tại UBND xã không có đăng ký khai tử của các cụ. Ông Vũ Đức H5, sinh năm 1955, chết ngày 21/3/1992, có vợ là bà Vũ Thị D và 3 người con là anh Vũ Đức H2, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị P (tên gọi khác là H4). Ông Vũ Đức S1, sinh năm 1953, chết ngày 26/12/1985, có vợ là bà Phan Thị M1 và 03 người con là chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1.
  • - Về nguồn gốc thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02: Theo hồ sơ đăng ký thực hiện Chỉ thị 299/CT-TTg, ký duyệt năm 1984 (viết tắt là 299) tại tờ bản đồ, sổ mục kê thể hiện là thửa 170, tờ bản đồ 01, diện tích 245, loại đất T (thổ cư); kê khai đăng ký tên người sử dụng cụ Vũ Đức D1. Theo hồ sơ địa chính đo đạc năm 1995 là 122 tờ bản đồ số 02, diện tích 315m², loại đất T (thổ cư); kê khai đăng ký tên người sử dụng bà Vũ Thị D. Năm 2006 bà D được cấp GCNQSDĐ đối với thửa 122 tờ bản đồ số 02, diện tích 279m², loại đất ở. Theo hồ sơ địa chính đo đạc năm 2013 thuộc thửa 211 tờ bản đồ số 14, diện tích 371,9m², loại đất ONT, trong đó có 1 phần diện tích thuộc đất UBND quản lý.
  • - Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đối với thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02 diện tích theo hiện trạng là 396,4m² tăng so với GCNQSDĐ do một số nguyên nhân: Sai số đo đạc, người sử dụng đất thống nhất về mốc giới với hộ giáp ranh và do gia đình bà D có sử dụng một phần đất ao do UBND xã quản lý, đất thuộc hành lang đường, một phần tự dịch mốc giới để mở rộng đường. Xác định quá trình sử dụng thửa đất từ trước đến nay gia đình bà D không có tranh chấp mốc giới với các hộ giáp ranh.
  • - Trên cơ sở GCNQSDĐ và hồ sơ đo đạc qua các thời kỳ, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án, trên cơ sở lồng ghép bản đồ xác định cụ thể các phần đất như sau: Phần diện tích đất thuộc thửa 122 tờ bản đồ số 02 = 306,8m² diện tích tăng hơn so với GCNQSDĐ = 27,8m² lý do sai số đo đạc và gia đình tự thống nhất mốc giới với hộ giáp ranh. Phần đất thuộc đất ao do UBND xã quản lý 72,1m², phần đất thuộc hành lang đường diện tích 17,4m². Phần đất ao, đất hành lang giao thông thuộc UBND xã quản lý gia đình bà D đang sử dụng đã đổ đất san lấp và trồng một số cây lâu năm, xây dựng tường bao trên đất. Trong vụ án này UBND xã không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết đối với phần đất thuộc quản lý của UBND xã, tạm thời chưa yêu cầu gia đình bà D phải di rời tài sản trên đất. Sau này UBND xã sẽ tự làm việc với gia đình bà D để giải quyết.
  • - Do đặc thù công việc nên UBND xã T đề nghị Tòa án cho UBND xã được vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa.

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản: 1. Tổng diện tích đất theo hiện trạng sử dụng 396,4m². Giá trị đất ở tại thửa đất có tranh chấp có giá 9.000.000đ/m². Các tài sản trên đất: Nhà hai tầng diện tích 111,4m² trị giá 161.614.000đ; Bếp diện tích 25,1m² trị giá 17.591.000đ; Công trình phụ diện tích 40,7m² trị giá 22.532.000đ; 01 chuồng gà diện tích 4,7m² trị giá 7.872.000đ; 01 nhà vệ sinh diện tích 2,2m² hết khấu hao, giá trị 0đ; 01 sân lát gạch hoa diện tích 65,1m² trị giá 21.030.000đ; 01 sân trạt bê tông phía trước công trình phụ diện tích 21,2m² trị giá 2.848.000đ; 01 sân trạt phía trước chuồng gà diện tích 7,2m² đã hết khấu hao giá trị 0đ; 02 trụ cổng trị giá 1.865.000đ; 02 cánh cổng bằng sắt trị giá 292.000đ; 01 đoạn tường dài 10,76m giáp đường thôn, tường xây 10 gồm hai phần phần tường cây cao 1,4m, phần lan hoa sắt cao 0,8 trị giá 26.543.000đ; 01 đoạn tường dài 18,73m giáp đường thôn trị giá 40.835.000đ; 01 đoạn tường bao giáp đường xóm dài 5m trị giá 10.747.000đ; 01 đoạn tường giáp mương dài 7,66m trị giá 15.138.000đ; Các cây trồng trên đất gồm: 01 cây xoài trị giá 900.000đ, 01 cây mít trị giá 660.000đ, 01 câu bưởi trị giá 240.000đ, 01 cây hồng xiêm trị giá 60.000đ, 01 cây nhãn trị giá 2.000.000đ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn anh Vũ Đức M: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị được nhận di sản thừa kế bằng quyền sử dụng đất với diện tích khoảng 75m² nằm ở vị trí phần đất còn trống, tự nguyện không yêu cầu anh H2 phải thanh toán chênh lệch tài sản.

Bị đơn bà Vũ Thị D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Đức H2: Giữ nguyên các quan điểm đã trình bày trước đó. Nhất trí với đề nghị của anh M tại phiên tòa, đề nghị HĐXX giao cho anh M phần đất khoảng 75m² ở phần đất trống giáp phần đất dôi dư, hai bên không phải trả chênh lệch tài sản cho nhau. Đối với phần tài sản nằm trên phần đất giao cho anh M, bà D, anh H2 tự nguyện không yêu cầu anh M phải trả giá trị bằng tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương trình bày việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 688, Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 147, Điều 157, 158, 165, 166, 184 Bộ luật Tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Đức M. Hủy GCNQSDĐ số AE 923513 số vào sổ cấp GCN 09/QSDĐ2006 ngày 04/7/2006 do UBND huyện T cấp cho bà Vũ Thị D đối với thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02. Xác định thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02, trị giá 2.761.200.000₫ là di sản của cụ Vũ Đức D1, cụ Cao Thị Bích . Áng trích công sức cho bà Vũ Thị D, bà Vũ Thị H mỗi người được hưởng trị giá tương đương một suất thừa kế. Di sản của cụ D1, cụ B còn lại sau khi trừ phần áng trích công sức được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ và người thừa kế thế vị. Chấp nhận sự tự nguyện của bà X1, ông X, bà Y tặng cho anh M phần di sản mình được hưởng. Chấp nhận sự tự nguyện của bà H, bà T, bà N, bà D, bà M1, chị H3, chị P, chị M2, chị T1, chị H1 tặng cho anh H2 phần di sản mình được hưởng. Chấp nhận sự tự nguyện của bà D, bà H tặng cho anh H2 phần ánh trích công sức, tài sản trên đất. Về giao hiện vật: Giao cho anh M 75m² đất tại vị trí phần đất còn trống; giao cho H2 phần đất còn lại tại vị trí có ngôi nhà 2 tầng. Hai bên không phải trả chênh lệch tài sản cho nhau. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí trên phần tài sản được được chia.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị T, ông Vũ Đình X, bà Vũ Thị X1, bà Vũ Thị N, bà Phan Thị M1, chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị P, chị Vũ Thị S, UBND huyện T, UBND xã T đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, quá trình giải quyết có quan điểm xin được vắng mặt tại phiên tòa. Bà Phạm Thị Y vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền của bà Y có mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung: Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quan điểm trình bày của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hội đồng xét xử xem xét đánh giá các nội dung sau:

2.1. Về di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất số đất số 122, tờ bản đồ 02, địa chỉ thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương: Theo bản đồ, sổ mục kê 299 là thửa 170, tờ bản đồ 01, diện tích 245, kê khai đăng ký tên người sử dụng cụ Vũ Đức D1. Theo hồ sơ đo đạc 1995 là thửa 122 tờ bản đồ số 02, diện tích 315m², kê khai đăng ký tên người sử dụng bà Vũ Thị D. Ngày 04/7/2006 bà Vũ Thị D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 923513 đối với thửa 122 tờ bản đồ số 02, diện tích 279m² đất ở. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, diện tích theo hiện trạng là 396,4m². UBND xã T xác định hiện bà D có sử dụng một phần đất thuộc đất ao do UBND xã quản lý có diện tích = 72,1m² và một phần đất thuộc hành lang đường diện tích 17,4m². Diện tích đất thuộc thửa 122 tờ bản đồ số 02 = 306,8m² diện tích tăng hơp so với GCNQSDĐ = 27,8m² lý do sai số đo đạc và gia đình tự thống nhất mốc giới với hộ giáp ranh. Các đương sự đề nghị giải quyết theo diện tích đất hiện trạng. Như vậy xác định diện tích thửa đất 122 tờ bản đồ số 02 là 306,8m² đất ở.

Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu xác minh tại UBND xã T xác định, nguồn gốc thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02 là của cụ D1, cụ B. Sau khi các cụ chết bà Vũ Thị D là người quản lý sử dụng thửa đất. Bà D trình bày khi cụ B còn sống đã cho bà đất nên bà mới được cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên cụ chỉ nói miệng không lập văn bản giấy tờ. Thời điểm đó các anh chị em trong gia đình đều biết và nhất trí. Anh M, bà Y, bà X1, ông X không thừa, bà D không đưa ra được căn cứ gì chứng minh về việc được tặng cho đất hay đã có việc thỏa thuận thuận phân chia thừa kế đối với thửa đất nêu trên. Do đó không có cơ sở chấp nhận trình bày của bà D. Xác định thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02 là tài sản chung hợp nhất của cụ D1, cụ B. Cụ D1, cụ B chết không để lại di chúc, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ chưa thỏa thuận phân chia thừa kế. Do đó xác định thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02 diện tích 306,8m² x 9.000.0000đ/m² trị giá 2.761.200.000đ là di sản của cụ D1, cụ B.

Về tài sản trên đất: Theo lời khai của xác đương sự và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định toàn bộ tài sản trên đất gồm nhà 2 tầng, nhà bếp, công trình phụ, lán tôn, sân, cổng, tường bao, chuồng chăn nuôi, cây trồng có tổng trị giá 332.767.000đ là của bà D xây dựng sau khi hai cụ chết do đó không phải là di sản thừa kế.

Về công sức của bà D, bà H: Sau khi cụ D1 chết, cụ B là người quản lý di sản, bà D ở cùng cụ B, bà H không có chồng có con năm 1978 cũng về ở trên đất cùng cụ B. Sau khi cụ B chết (năm 1998), bà D, bà H cùng ở trên đất và cùng quản lý, sử dụng thửa đất nên cả hai bà đều có công sức trông nom, tôn tạo di sản thừa kế. Do đó ánh trích một phần công sức cho bà D, bà H mỗi người trị giá 345.000.000₫ x 2 = 690.000.000đ.

Như vậy giá trị di sản còn lại sau khi ánh trích công sức cho bà D là 2.761.200.000₫ - 690.000.000₫ = 2.071.200.000đ. Cụ D1, cụ B mỗi người được hưởng ½ giá trị 2.071.200.000đ/2 = 1.035.600.000đ.

2.2, Về thời điểm mở thừa kế và thời hiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đức D1, cụ Cao Thị B:

Cụ Vũ Đức D1, chết ngày 18/02/1976, thời điểm mở thừa kế là ngày 18/02/1976, cụ Vũ Thị D2 (tên gọi khác Cao Thị B), chết ngày 31/05/1998, thời điểm mở thừa kế là ngày 31/5/1998. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688, Điều 611, khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mờ thừa kế; Theo hướng dẫn tại Mục I Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối Cao, thì thời hiện thừa kế đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990. Như vậy tính đến thời điểm anh M nộp đơn khởi kiện thì thời hiệu thừa kế đối với di sản của cụ Vũ Đức D1 đã hết, thời hiệu thừa kế đối với di sản của cụ Cao Thị B vẫn còn. Các đương sự không ai yêu cầu áp dụng thời hiện và thống nhất đề nghị Tòa án chia thừa kế đối với di sản của cụ D1. Do đó không áp dụng thời hiệu đối với di sản của cụ D1.

2.3, Về người thừa kế, chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đức D1:

Tại thời điểm cụ D1 mất, di sản của cụ D1 là 1/2 giá trị tài sản = 1.035.600.000đ. Người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ D1 gồm 9 người là: Cụ B, bà H, ông S1, ông H5, ông M3, bà T, ông X, bà X1, bà N. Di sản thừa kế của cụ D1 được chia thành 9 suất cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, mỗi suất thừa kế được hưởng phần di sản có giá trị 115.066.666đ.

Ông Vũ Đức S1, chết ngày 26/12/1985, người được thừa kế của ông S1 gồm bà Phan Thị M1 chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1 được nhận phần di sản ông S1 được hưởng, chia ra mỗi người được hưởng phần di sản trị giá 28.766.666₫.

Ông Vũ Đức H5, chết ngày 21/3/1992, người được thừa kế của ông H5 gồm bà D, anh H2, chị H3, chị P được nhận phần di sản ông H5 được hưởng, chia ra mỗi người được hưởng phần di sản trị giá 28.766.666đ.

Ông Vũ Đức M3, chết ngày 08/5/2018, người được thừa kế của ông M3 gồm bà Y, anh M được nhận phần di sản ông M3 được hưởng, chia ra mỗi người được hưởng phần di sản trị giá 57.533.333đ.

2.4, Về người thừa kế, chia di sản thừa kế của cụ Cao Thị B:

Di sản của cụ B là 1/2 giá trị tài sản + phần di sản được hưởng của cụ D1 là 1.035.600.000đ + 115.066.666đ = 1.150.666.666đ. Tại thời điểm cụ B chết người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của chị B gồm: bà H, ông M3, bà T, ông X, bà X1, bà N. Ông S1, ông H5 chết trước cụ B nên các con của ông S1 là chị M2, chị T1, chị H1; các con của ông H5 là anh H2, chị H3, chị P được thừa kế thế vị. Như vậy di sản của cụ B được chia thành 8 suất thừa kế, mỗi suất được hưởng phần di sản trị giá 143.833.333đ. Chị M2, chị T1, chị H1, anh H2, chị H3, chị P mỗi người được hưởng = 47.944.444d.

Ông M3 chết sau cụ B, phần di sản ông M3 được hưởng được chia cho bà Y, anh M mỗi người được hưởng = 71.916.666đ.

2.5. Như vậy bà H, bà T, ông X, bà X1, bà N mỗi người được hưởng phần di sản của cụ D1, cụ B trị giá là 115.066.666đ + 143.833.333đ = 258.900.000₫ (Đã làm tròn). Anh M, bà Y mỗi người được hưởng phần di sản trị giá là 57.533.333đ + 71.916.666đ = 129.450.000đ (Đã làm tròn). Anh H2, chị H3, chị P, chị M2, chị T1, chị H1 mỗi người được hưởng phần di sản trị giá là 28.766.666đ + 47.944.444đ = 76.711.111đ. Bà D, bà M1 mỗi người được hưởng phần di sản trị giá = 28.766.666đ.

Bà X1, ông X, bà Y tự nguyện tặng cho anh M phần di sản mình được hưởng nên anh M được hưởng phần di sản có giá trị = 776.700.000₫

Bà H, bà T, bà N, bà D, bà M1, chị H3, chị P, chị M2, chị T1, chị H1 tự nguyện tặng cho anh H2 phần di sản mình được hưởng; bà D, bà H tự nguyện tặng cho anh H2 phần ánh trích công sức mình được hưởng nên anh H2 được hưởng phần di sản, công sức có giá trị = 1.984.500.000₫.

2.6. Về giao hiện vật:

Do các đương sự có yêu cầu nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, trên đất có nhiều công trình tài sản của bà D. Bà D tự nguyện tặng cho anh H2 toàn bộ tài sản trên đất. Tại phiên tòa anh M, bà D, anh H2 thống nhất đề nghị giao cho anh M phần đất còn trống có diện tích khoảng 75m², giao cho anh H2 phần đất có các công trình xây dựng. Anh Minh tự nguyện không yêu cầu anh H2 phải trả chênh lệch tài sản. Anh H2, bà D tự nguyện không yêu cầu anh M phải trả giá trị các tài sản trên đất. Căn cứ Quy định hạn mức giao đất, hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất có vườn, ao, điều kiện hợp thửa đất, điều kiện tách thửa đất, diện tích đất tối thiểu được tách thửa đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Hội đồng xét xử giao cho anh M được sử dụng 75m² đất ở, trị giá 675.000.000đ; giao cho anh H2 được sử dụng 231,8m² đất ở trị giá 2.086.200.000đ. Anh M, anh H2 được sở hữu các tài sản xây dựng, cây trồng trên phần đất được giao. Anh Minh tự nguyện không yêu cầu anh H2 phải trả chệnh lệch tài sản. Anh H2, bà D tự nguyện không yêu cầu anh M phải trả giá trị tài sản trên đất.

2.7. Đối với 17,4m² đất giao thông thuộc quản lý của UBND xã T, hiện gia đình bà D, anh H2 đang sử dụng trên đất có một phần tường bao, cổng. Do đó tạm giao cho anh H2 quản lý, sử dụng.

2.8. Đối với phần đất dôi dư 72,1m² thuộc đất ao do UBND xã T quản lý. Theo xác minh tại UBND xã và lời trình bày của đương sự thì phần đất này bà D là người sử dụng, đã san lấp, trên đất có một số cây lâu năm, tường bao. Bà D đã tự nguyện tặng cho anh H2 toàn bộ tài sản trên đất và phần di sản mình được hưởng. Do đó tạm giao cho anh H2 quản lý sử dụng phần đất dôi dư.

2.9. Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AE 923513 số vào sổ cấp GCN 09/QSDĐ 2006 ngày 04/7/2006 do UBND huyện T cấp cho bà Vũ Thị D đối với thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02, địa chỉ thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương:

Như đã phân tích trên nguồn gốc thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02 là của cụ Vũ Đức D1, cụ Cao Thị Bích . Hồ sơ 299 đăng ký chủ sử dụng cụ Vũ Đức D1. Năm 2006 bà D được cấp GCNQSDĐ nhưng không có tài liệu, chứng cứ thể hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ cụ D1, cụ B sang cho bà D. Do đó việc cấp GCNQSDĐ cho bà D là không đúng quy định của pháp luật. Anh M yêu cầu hủy GCNQSDĐ là có căn cứ chấp nhận.

[3]. Về án phí, chi phí thẩm định và định giá tài sản:

Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Anh Minh tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản = 8.900.000đ. Anh M4 đã nộp tạm ứng số tiền trên. Xác định anh M4 đã thực hiện xong nghĩa vụ.

Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1, đương sự phải chịu án phí trên phần tài sản được hưởng. Bà D, bà H, bà T, ông X, bà X1, bà M1, bà Y là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định. Anh H2 tự nguyện chịu án phí thay cho bà N, chị M2, chị T1, chị H1, chị H3, chị P. Yêu cầu của anh M4 về hủy GCNQSDĐ được chấp nhận nên bị đơn bà D phải chịu án phí không có giá ngạch. Bà D là người cao tuổi nên miễn án phí cho bà D.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 688, Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 147, Điều 157, 158, 165, 166, 184 Bộ luật Tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Đức M.

1. Hủy GCNQSDĐ số AE 923513 số vào sổ cấp GCN 09/QSDĐ2006 ngày 04/7/2006 do UBND huyện T cấp cho bà Vũ Thị D đối với thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

2. Chia thừa kế di sản của cụ Vũ Đức D1, cụ Vũ Thị D2 (tên gọi khác Cao Thị B) theo pháp luật:

  • 2.1. Xác định thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương diện tích 306,8m², trị giá 2.761.200.000₫ (Hai tỷ bảy trăm sáu mươi mốt triệu, hai trăm nghìn đồng) là di sản của cụ Vũ Đức D1, cụ Cao Thị Bích .
  • Áng trích công sức cho bà Vũ Thị D, bà Vũ Thị H mỗi người được hưởng trị giá 345.000.000đ (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng), tổng = 690.000.000₫ (Sáu trăm chín mươi triệu đồng).
  • Di sản thừa kế của cụ D1, cụ B sau khi trừ phần áng trích công sức còn lại là 2.071.200.000đ (Hai tỷ không trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng). Cụ D1, cụ B mỗi người được hưởng ½ giá trị = 1.035.600.000đ (Một tỷ, không trăm ba mươi lăm triệu, sáu trăm nghìn đồng).
  • 2.2. Di sản thừa kế của cụ D1 trị giá 1.035.600.000đ chia thành 9 suất thừa kế cho: Cụ Cao Thị B, bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức S1, ông Vũ Đức H5, ông Vũ Đức M3, bà Vũ Thị T, ông Vũ Đình X, bà Vũ Thị X1, bà Vũ Thị N, mỗi suất thừa kế được hưởng di sản giá trị = 115.066.666đ (Một trăm mười lăm triệu, không trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
  • Phần di sản ông Vũ Đức S1 được hưởng chia cho bà Phan Thị M5, chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1 mỗi người được hưởng trị giá 28.766.666₫ (Hai mươi tám triệu, bảy trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
  • Phần di sản ông Vũ Đức H5 được hưởng chia cho bà Vũ Thị D, anh Vũ Đức H2, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị P mỗi người được hưởng phần di sản trị giá 28.766.666₫ (Hai mươi tám triệu, bảy trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
  • Phần di sản ông Vũ Đức M3 được hưởng chia cho bà Phạm Thị Y, anh Vũ Đức M mỗi người được hưởng phần di sản trị giá 57.533.333đ (Năm mươi bảy triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
  • 2.3. Di sản của cụ B trị giá 1.150.666.666 chia thành 8 suất thừa kế cho: Bà Vũ Thị H; ông Vũ Đức M3; bà Vũ Thị T; ông Vũ Đình X; bà Vũ Thị X1; bà Vũ Thị N; người thừa kế thế vị của ông Vũ Đức S1 (gồm chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1); người thừa kế thế vị của ông H5 (gồm anh Vũ Đức H2, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị P). Mỗi suất được hưởng phần di sản trị giá 143.833.333đ (Một trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
  • Chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1, anh Vũ Đức H2, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị P mỗi người được hưởng 47.944.444đ (Bốn mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng).
  • Phần di sản ông Vũ Đức M3 được hưởng chia cho bà Phạm Thị Y, anh Vũ Đức M mỗi người được hưởng 71.916.666đ (Bảy mươi mốt triệu, chín trăm mười sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
  • 2.4. Chấp nhận sự tự nguyện của bà X1, ông X, bà Y tặng cho anh M phần di sản mình được hưởng. Anh M được hưởng phần di sản có giá trị 776.700.000₫ (B1 trăm bảy mươi sáu triệu, bảy trăm nghìn đồng).
  • Chấp nhận sự tự nguyện của bà H, bà T, bà N, bà D, bà M1, chị H3, chị P, chị M2, chị T1, chị H1 tặng cho anh H2 phần di sản mình được hưởng. Chấp nhận sự tự nguyện của bà D tặng cho anh H2 phần ánh trích công sức và tài sản trên đất cho anh H2. Chấp nhận sự tự nguyện của bà H tặng cho anh H2 phần áng trích công sức. Anh H2 được hưởng phần di sản, áng trích công sức có giá trị 1.984.500.000đ (Một tỷ chín trăm tám mươi tư triệu, năm trăm nghìn đồng).

3. Về chia hiện vật (có sơ đồ kèm theo):

  • - Giao cho anh Vũ Đức M được sử dụng: 75m² đất ở, trị giá 675.000.000₫ được giới hạn bởi các điểm từ C1, B4, B3, B2, C2 đến C1, thuộc thửa thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Anh M được sở hữu các tài sản, cây trồng trên đất.
  • - Giao cho anh Vũ Đức H2 được sử dụng: 231,8m² đất ở trị giá 2.086.200.000đ, được giới hạn bởi các điểm từ C1, C2, B1, A11, A12, A13, A1, A2, B6 đến C1, thuộc thửa đất số 122 tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Anh H2 được sở hữu các tài sản xây dựng, cây trồng trên đất.
  • - Chấp nhận sự tự nguyện của anh M, không yêu cầu anh H2 phải trả tiền chênh lệch tài sản. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H2, bà D không yêu cầu anh M phải trả giá trị tài sản trên đất.
  • Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sử dụng đất và phải chấp hành đầy đủ quy định của Pháp luật trong quá trình sử dụng bất động sản được chia. Trường hợp đường ranh giới đi vào tài sản hoặc cây cối trên đất của ai thì người đó có trách nhiệm chặt bỏ hoặc tháo dỡ.

4. Tạm giao cho anh Vũ Đức H2 sử dụng 17,4m² đất thuộc đất giao thông được giới hạn bởi các điểm B6, A2, A3, A4, A5 đến B6. Tạm giao cho anh Vũ Đức H2 sử dụng đối với phần đất dôi dư 72,1m² thuộc đất ao do UBND xã T quản lý được giới hạn bởi các điểm B4, A6, A7, A8, A9, A10, B1, B2, B3 đến B4 (Có sơ đồ kèm theo).

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc làm thủ tục hợp thức hóa phần diện tích đất dôi dư, đất thuộc hành lang giao thông anh H2 phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí, chi phí tố tụng:

  • - Về án phí: Miễn án phí cho bà Vũ Thị D, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị T, ông Vũ Đình X, bà Vũ Thị X1, bà Phan Thị M1, bà Phạm Thị Y.
  • Anh Vũ Đức M phải chịu 6.472.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0005261 ngày 21/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, anh M còn phải nộp 6.172.000đ (Sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
  • Anh Vũ Đức H2 phải chịu và tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm thay cho bà Vũ Thị N, chị Vũ Thị M2, chị Vũ Thị T1, chị Vũ Thị H1, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị P, tổng = 32.766.000đ (Ba mươi hai triệu, bảy trăm sáu mươi sáu nghìn đồng)
  • - Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Anh Vũ Đức M tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản = 8.900.000đ. Anh M4 đã nộp tạm ứng số tiền trên. Xác định anh M4 đã thực hiện xong nghĩa vụ.

Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh HD;
  • - Đương sự
  • - Người đại diện theo ủy quyền của đương sự;
  • - Cục THA DS tỉnh HD;
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Đoàn Thị Thu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp thừa kế, yêu cầu hủy gcnqdđ

  • Số bản án: 50/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế, yêu cầu hủy GCNQDĐ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Vũ Đức M - Bà Vũ Thị D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger