|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2025/DS-ST
Ngày: 20/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Hồng Gái;
Ông Vũ Đức Kiểu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Phương Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 210/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Tổ D, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Tổ F, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
2. Ông Phạm Văn G1, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Tổ D, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2024, tờ tường trình và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn G1 trình bày:
Nguyên trước đây, vợ chồng bà có tham gia chơi hụi của bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T (bà G, ông T làm chủ hụi), cư ngụ tại tổ F, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang, vợ chồng bà tham gia 03 dây hụi với hình thức chơi như sau:
- Dây số 01, hụi áp ngày 16/8/2022 âl, hụi có 62 đầu hụi, hụi xổ một tháng một lần (có số hụi kèm theo) mỗi đầu 3.000.000 đồng/tháng, hình thức chơi hụi là ai bỏ cao được hốt, vợ chồng bà tham gia 04 đầu. Sau đi vợ chồng bà đóng được 03 lần hụi sống với số tiền là 24.920.000đ (Hai mươi bốn triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) thì bà G, ông T bể hụi bỏ trốn khỏi địa phương.
Đồng thời, vào ngày 16/8/2022 âl, vợ chồng bà mua 02 chân hụi tháng, một tháng xổ một lần với số tiền 3.000.000 đồng của bà G với tổng số tiền là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), tờ giấy mua hụi hiện nay vợ chồng bà đã bị lạc mất.
Ngoài ra, vào ngày 10/6/2022, vợ chồng bà mua 06 chân hụi tháng, một tháng một lần với số tiền 2.000.000 đồng của bà G với tổng số tiền là 298.800.000 đồng.
- Dây số 02, hụi ngày áp ngày 20/8/2022 âl, mỗi dây có 65 người (có sổ hụi kèm theo), hụi ngày 50.000 đồng, hình thức chơi hụi là ai bỏ cao được hốt, vợ chồng bà tham gia 150 dây. Sau đó vợ chồng bà đóng được 61 lần hụi sống với số tiền là 457.500.000đ (B trăm năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), thì bà G, ông T bỏ trốn khỏi địa phương.
- Dây số 03, hụi ngày áp ngày 20/10/2022 âl, mỗi dây có 65 người chơi (có số hụi kèm theo), hình thức chơi hụi là ai bỏ cao được hốt, vợ chồng bà tham gia 170 chân. Sau đó, vợ chồng bà đóng được 06 lần hụi sống với số tiền là 44.540.000đ (Bốn mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) thì bà G, ông T bỏ trốn khỏi địa phương.
Bên cạnh đó, vào ngày 20/10/2022, vợ chồng bà mua 100 dây hụi ngày của bà G, ông T, mỗi dây là 2.860.000 đồng, vợ chồng bà mua với tổng số tiền là 286.000.000đ (Hai trăm tám mươi sáu triệu đồng) - (có sổ mua hụi kèm theo).
Vậy tổng cộng bà G, ông T thiếu vợ chồng bà số tiền là 1.231.760.000đ (Một tỷ hai trăm ba mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Việc làm trên của bà G, ông T là rất xem thường pháp luật làm ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng bà, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế của gia đình bà.
Nay vợ chồng bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết như sau:
Yêu cầu Tòa buộc vợ chồng bà G, ông T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà số tiền là 1.231.760.000đ (Một tỷ hai trăm ba mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:
Bà thừa nhận vào ngày 16/8/2022 âl, bà có mở dây hụi tháng, hụi có 62 đầu hụi, hụi xổ một tháng một lần (có số hụi kèm theo) mỗi đầu 3.000.000 đồng/tháng, hình thức chơi hụi là ai bỏ cao được hốt, vợ chồng bà L tham gia 04 đầu. Sau đó vợ chồng bà L đóng được 03 lần hụi sống với số tiền là 24.920.000đ (Hai mươi bốn triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).
- Vào ngày 10/6/2022 âl, vợ chồng bà L có mua 06 chân hụi tháng, một tháng một lần với số tiền 2.000.000 đồng của bà G với tổng số tiền là 298.800.000đ (Hai trăm chín mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).
- Dây số 02, hụi ngày áp ngày 20/8/2022 âl, mỗi dây có 65 người (có sổ hụi kèm theo), hụi ngày 50.000 đồng, hình thức chơi hụi là ai bỏ cao được hốt, vợ chồng bà L tham gia 150 dây. Sau đó vợ chồng bà L đóng được 61 lần hụi sống với số tiền là 457.500.000 đồng (B trăm năm mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Dãy số 03, hụi ngày áp ngày 20/10/2022 âl, mỗi dây có 65 người chơi (có số hụi kèm theo), hình thức chơi hụi là ai bỏ cao được hốt, vợ chồng bà L tham gia 170 dây. Sau đó, vợ chồng bà L đóng được 06 lần hụi sống với số tiền là 44.540.000đ (Bốn mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
Cùng ngày 20/10/2022 âl, vợ chồng bà L mua 100 dây hụi ngày của bà làm chủ, mỗi dây là 2.860.000 đồng, vợ chồng bà L mua với tổng số tiền là 286.000.000đ (Hai trăm tám mươi sáu triệu đồng).
Đối với việc vợ chồng bà L trình bày vào ngày 16/8/2022, vợ chồng bà L mua 02 chân hụi tháng, một tháng xổ một lần với số tiền 3.000.000 đồng của bà với tổng số tiền là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), tại phiên họp hoà giải, vợ chồng bà L không có giấy tờ, bà cũng không đem giấy tờ, nên việc này sẽ về xem sổ sách lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T: Ông có biết vợ là bà G làm hụi và có vài lần vợ ông (bà G) nhờ ông đi gom hụi, đi kêu gom bao nhiêu thì biết bấy nhiêu, chứ số tiền cụ thể như thế nào thì không nắm được.
Tại phiên tòa:
Vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phạm Văn G1 yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà số hụi còn nợ là 1.111.760.000 đồng. Vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phạm Văn G1 xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 120.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ đủ cơ sở để đưa vụ án ra xem xét giải quyết.
Về hướng đề nghị giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phạm Văn G1 số hụi còn nợ là 1.111.760.000 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L với số tiền 120.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn T1 phải có nghĩa vụ liên đới nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà HĐXX nhận định vụ án này như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị L yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới phải trả số tiền hụi còn nợ. Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi, bị đơn bà Nguyễn Thị G có nơi cư trú tại tổ F, ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị G; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt, nên HĐXX căn cứ quy định tại khoản 1 và 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vẫn tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt đương sự tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phạm Văn G1 số hụi đã thực đóng là 1.111.760.000 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: Tại Biên bản hoà giải ngày 20/3/2025, bà G thừa nhận còn nợ vợ chồng bà L, ông T1 số tiền nợ hụi là 1.111.760.000 đồng. Do đó đây là các tình tiết được các bên đương sự thừa nhận, nên không cần phải chứng minh và được xem là chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, ông T1 không đồng ý cùng liên đới trả tiền nợ hụi còn thiếu cho vợ chồng bà L, ông G1.
HĐXX xét thấy, việc chơi hụi diễn ra trong thời gian dài, ông T1 cũng thừa nhận có biết vợ là bà G làm hụi và có vài lần vợ ông nhờ ông đi gom hụi, đi kêu gom bao nhiêu thì biết bấy nhiêu, chứ số tiền cụ thể như thế nào thì ông không nắm được. Ông T1 không có động thái phản đối, mà có khi còn giúp bà G đi gom hụi. Đồng thời, việc bà G làm chủ hụi và mở các dây hụi để kiếm lời nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do vậy, HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông T1 phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bà G trả cho vợ chồng bà L số tiền nợ hụi 1.111.760.000 đồng.
[3.2] Đối với yêu cầu của bà G về việc xin vợ chồng bà L, ông G1 cho bà đến trả dần mỗi tháng vài triệu cho đến khi thanh toán xong nợ. Tuy nhiên, việc này không được vợ chồng bà L, ông G1 đồng ý và yêu cầu phải có nghĩa vụ trả số nợ hụi một lần. Theo quy định tại mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ T2 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định: Tòa án không ấn định trong Bản án, Quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành án, nên HĐXX không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của bà G. Tuy nhiên, nếu vợ chồng bà G thật sự có khó khăn về kinh tế, thì có thể làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
[3.3] Đối với việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị L xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 120.000.000 đồng. HĐXX xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà L là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên HĐXX đình chỉ một yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, trong quá trình nghị án và thảo luận, HĐXX có cơ sở chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà, chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phạm Văn G1 số tiền nợ hụi là 1.111.760.000 đồng. Đình chỉ một phần khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà số tiền nợ hụi 120.000.000 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới nộp án phí sơ thẩm trên số tiền nợ hụi 1.111.760.000 đồng buộc phải trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phạm Văn G1 là 45.352.800 đồng (làm tròn 45.353.000 đồng).
Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 357, Điều 471, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 18, Điều 21, Điều 22, Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
Áp dụng mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ T2 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
- Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phạm Văn G1 số tiền nợ hụi là 1.111.760.000đ (Một tỷ một trăm mười một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ một phần khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho vợ chồng bà số tiền nợ hụi 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới nộp án phí sơ thẩm là 45.353.000đ (Bốn mươi lăm triệu ba trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 24.476.000đ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001124 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/6/2025); Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thì được quyền kháng cáo Bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh H |
7
Bản án số 50/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
- Số bản án: 50/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L kiện Nguyễn Thị Gi
