TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2025/DS-ST
Ngày: 11/6/2025
V/v tranh chấp QSDĐ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thanh Thảo
- Bà Cao Thị Diệu Hiền
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2025/TLST-DS ngày 06/02/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Anh C, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Số A đường B, phường B, quận B, thành phố H.
Bị đơn: Bà Nguyễn Bích V, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Số C Quốc lộ H, khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Số C Quốc lộ H, khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lê Anh C trình bày: Phần đất tranh chấp thửa 237, tờ bản đồ 38, diện tích đo đạc thực tế 13,8m², tọa lạc tại khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh Đ là Hình 1, thuộc các mốc 1-2-3-6-7-1, theo sơ đồ đo đạc ngày 29/5/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai.
Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà nội (Lưu Thị H) để lại cho cha ông C là ông Lê Phái H1, sau đó ông H1 cho lại ông C vào năm 1994, cho chung với phần đất thửa 36, tờ bản đồ 38, diện tích 457,7m² ông C được cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 28/3/2014; nhưng diện tích 13,8m² này thì ông C chưa kê khai, do bên bà V sử dụng, nên chưa được cấp Giấy nhận QSDĐ. Năm 2015 ông C tách thửa 36 thành hai thửa gồm thửa 189 diện tích 100,1m² đã chuyển nhượng cho người khác và thửa còn lại là thửa 190, diện tích 357,6m², hiện thửa 190 ông C đang sử dụng, tiếp giáp với thửa 237 hiện ông C đang tranh chấp. Trước đây do bà V, bà L không có lối đi nên bên ông C có cho bà V, bà L sử dụng phần đất thửa 237 để làm lối đi từ nhà bà V, bà L qua thửa 237 rồi đi xuyên qua thửa đất 190 của ông C để ra QL 80, hiện nay 2 hộ đã có lối đi khác ra đường công cộng.
Nay ông C yêu cầu bà V, bà L trả lại cho ông C diện tích đất 13,8m² (Hình 1), thuộc thửa 237, tờ bản đồ 38, thuộc các mốc 1-2-3-6-7-1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Đối với Hình 2 trong sơ đồ đo đạc diện tích 1,8m² theo ông C là đất công cộng, ông C không có tranh chấp.
Bên nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc, thẩm định, định giá. Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Bích V trình bày: Phần đất của bà V đang sử dụng thuộc thửa 31, tờ bản đồ 38, diện tích 76m² do bà V đứng tên QSDĐ và diện tích đất tranh chấp 13,8m² có nguồn gốc đất của ông bà của ông C; bà V sử dụng liên tục từ trên 40 năm nay.
Trước đây, năm 1996 cha ông C là ông Lê Phái H1 có tranh chấp và được Ủy ban thị xã S đã giải quyết, khi đó Ủy ban có đo đạc phần diện tích căn nhà là 76m² và bà V được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với 76m²; nhưng diện tích đất phía trước sân nhà của bà (hiện đo đạc là 13.8m²) cũng là lối đi ra đường công cộng của gia đình bà V sử dụng ổn định từ trên 40 năm nay, bà V sử dụng diện tích đất thửa 237 làm lối đi ra QL 80, nhưng sau khi ông C rào lại không cho đi qua đất ông C (thửa 190) thì phần diện tích 13.8m² bà V sử dụng làm sân sinh hoạt trước cửa nhà, bà V đã láng xi măng toàn bộ diện tích; nhưng qua thời gian sử dụng bà chưa kê khai và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Diện tích 13.8m² này là diện tích ngay trước sân nhà của bà V và bà đã sử dụng liên tục trên 40 năm; đồng thời, năm 1996 ông Phái H1 cha ông C tranh chấp đòi lại đất, thì diện tích đất 13.8m² này ông Phái H1 không có yêu cầu; qua thời gian sử dụng bà chưa kê khai, nhưng diện tích này bà đã sử dụng trên 40 năm, phía nguyên đơn ông C cũng không đứng tên quyền sử dụng đất; do đó bà V không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của ông C.
Trường hợp xác định thửa 237 của ông C thì đối với phần chi phí láng xi măng bà V không có yêu cầu gì.
Bà V đồng ý với kết quả đo đạc, thẩm định, định giá. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày: Phần đất bên bà L thuộc thửa 32, tờ bản đồ 38, diện tích 80m² hiện bà lan đứng tên QSDĐ, bà L đã cất nhà ở kiên cố trên toàn bộ diện tích đất. Bà L không có tranh chấp phần đất thửa 237 với ông C, theo bà L nguồn gốc đất tranh chấp là của bà nội ông C, gia đình bà về ở trên đất từ năm 1982 đến nay. Hiện trên đất tranh chấp thửa 237 thì bà L có làm mái che tiền chế. Trường hợp xác định đất của ai và có yêu cầu thì bà L sẽ tháo dở mái che tiền chế. Bà L không có yêu cầu gì trong vụ kiện.
Bên bà L đồng ý với kết quả đo đạc, thẩm định, định giá. Ngoài ra, bà L không có yêu cầu gì khác.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
- Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX); việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
- Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho bà V tiếp tục sử dụng phần đất thửa 237.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại thành phố S, đương sự chọn Tòa án giải quyết nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố S theo quy định của pháp luật về đất đai và tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Qua Tòa án thu thập chứng cứ đã xác định phần đất ông C tranh chấp với bà V thuộc thửa 237, tờ bản đồ 38, diện tích đo đạc thực tế 13,8m² (Hình 1), thuộc các mốc 1-2-3-6-7-1 theo sơ đồ đo đạc ngày 16/5/2025 và 29/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Theo cung cấp thông tin của cơ quan chuyên môn là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và cung cấp thông tin của UBND thành phố S, UBND phường 2 thì phần đất tranh chấp từ trước đến nay chưa được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai, phần đất tranh chấp thuộc loại đất trồng cây lâu năm và không phải đất công cộng. Ngoài ra, các bên đương sự thừa nhận diện tích đất này từ trước đến nay là bà V quản lý, sử dụng. Đây là các tình tiết, sự kiện được các đương sự cùng thừa nhận nên không cần chứng minh theo Điều 92 BLTTDS.
[2.2] Quá trình tranh chấp trước đây: Hội đồng xét xử thấy rằng trước đây giữa ông Lê Phái H1 (cha ông C) đã có tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Bích V (cùng 2 người khác), theo kết quả giải quyết của UBND thị xã S tại Quyết định số 171/QĐ.UB ngày 20/4/1996 đã cho bà L được tiếp tục sử dụng đất diện tích 80m² (ngang 4m x dài 20m), bà L bồi hoàn cho ông H1 số tiền 1.000.000đ; cho bà V được tiếp tục sử dụng đất diện tích 76m² (ngang 4m x dài 19m), bà V bồi hoàn cho ông H1 số tiền 1.000.000đ.
Do không đồng ý với Quyết định số 171 của UBND thị xã S nên ông H1 đã khiếu nại đến UBND tỉnh Đ. Kết quả giải quyết tại Quyết định số 375/QĐ-UB-NĐ ngày 23/8/2002 của UBND tỉnh Đ đã điều chỉnh Quyết định 171 của UBND thị xã S, theo đó cho bà V được sử dụng 76m² đất như hiện trạng và bồi hoàn thành quả lao động cho ông H1 với giá 4.000đồng/m²; riêng bà L tự thỏa thuận xong về bồi hoàn nên không đặt vấn đề bồi hoàn lại.
Trên cơ sở quyết định giải quyết của UBND thị xã và UBND tỉnh, ngày 12/3/2012 bà V được UBND thị xã cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 31, tờ bản đồ 38, diện tích 76m² (ODT), hiện trên toàn bộ diện tích đất có căn nhà kiên cố (cấp 4) bà V đang ở; Đối với bà L được UBND thị xã cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu ngày 21/9/1996 thửa 1430, tờ bản đồ số 2, diện tích 80m² (T), ngày 06/3/2023 bà L cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ thành thửa 32, tờ bản đồ số 38, diện tích 80m² (ODT), hiện trên toàn bộ diện tích đất có căn nhà kiên cố (cấp 4) bà L đang ở.
[2.3] Như vậy, tranh chấp trước đây giữa ông H1 với bà L, bà V (cùng 2 hộ khác) đã được giải quyết xong, bà L, bà V đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ (bà V thửa 31; bà L thửa 32), phần đất tranh chấp trước đây không liên quan phần đất tranh chấp thửa 237 giữa ông C với bà V trong vụ án này.
[3] Trên cơ sở đó xét về nguồn gốc đất tranh chấp thửa 237 HĐXX thấy rằng:
+ Theo ông C nguồn gốc đất do ông bà để lại cho cha, sau đó cha ông C tặng cho lại ông C năm 1994, tuy nhiên ông C không có chứng cứ chứng minh, bởi vì ông H1 cũng không có chứng cứ gì về QSDĐ là của ông H1. Mặt khác, năm 2014 ông C kê khai cấp giấy chứng nhận QSDĐ (Phần đất được cha cho) cũng không kê khai cấp giấy phần đất thửa 237 mà chỉ kê khai thửa 36 và được cấp giấy. Theo cung cấp thông tin của cơ quan thẩm quyền UBND thành phố S và UBND phường B thì không có thông tin về chủ sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp thửa 237.
+ Theo bà V nguồn gốc đất tranh chấp trên (thửa 237) gắn liền với phần đất bà V tranh chấp với ông H1 trước đây, thể hiện tại bản vẽ sơ đồ khu đất, (không ghi ngày tháng, có xác nhận của Thanh tra thị xã S), thể hiện tại vị trí đường đi 1,5m. Mặc dù phần đất tranh chấp không nằm trong thửa 31 của bà V đã được cấp giấy nhưng trên thực tế bà V có sử dụng phần đất này làm lối đi như thể hiện tại bản vẽ sơ đồ khu đất mà bà V trình bày.
Mặc dù ông C cho rằng đất ông bà để lại và bà L trình bày nguồn gốc đất là của bà nội ông C trước đây, tuy nhiên như đã phân tích ở trên về nguồn gốc đất đối với thửa 31, 32 đã được giải quyết mới có nguồn gốc của bà nội ông C, còn phần đất tranh chấp thửa 237 không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện của bên ông C.
[4] Quá trình sử dụng đất: Hội đồng xét xử thấy rằng từ trước đến nay thửa đất 237 do bên bà L, bà V sử dụng làm lối đi ra đường công cộng, sau khi ông C làm rào lưới B40 không cho bà V, bà L đi qua thửa đất 190 của ông C thì bà V, bà L đi qua lối khác, còn phần đất thửa 237 hiện nay sử dụng làm sân sinh hoạt chung. Bà V, bà L sử dụng liên tục từ khi về ở năm 1982, đến nay hơn 40 năm. Trong khi đó trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông C đều trình bày từ trước tới nay bên ông C không có sử dụng đất (thửa 237); đối với ông C trình bày cho bà L, bà V sử dụng đất làm lối đi cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh và bà L, bà V cũng không thừa nhận.
[5] Về tài sản trên đất: Quá trình sử dụng bà V đã láng xi măng phần đất tranh chấp; còn bà V làm mái che tiền chế sử dụng, trên đất không còn tài sản gì khác, cũng không có tài sản gì của bên ông C.
[6] Qua các phân tích, nhận định trên xét cả nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng phần đất tranh chấp thửa 237, tờ bản đồ số 38, diện tích 13,8m² là thuộc quyền sử dụng của bên mình, tuy nhiên chưa ai kê khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 237. Đối với nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh, trong khi bị đơn đang quản lý, sử dụng từ trước đến nay, trên đất có tài sản của bị đơn xây dựng.
[7] Tại phiên tòa, các bên đương sự khẳng định không ai cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm. Do vậy, HĐXX căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập, kết quả tranh tụng tại phiên tòa giải quyết tranh chấp.
[8] Từ những phân tích trên, HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C. Qua đó, bà V được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất thửa 237, tờ bản đồ 38, diện tích đo đạc thực tế 13,8m², tọa lạc tại khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh Đ là Hình 1, thuộc các mốc 1-2-3-6-7-1, theo sơ đồ đo đạc ngày 29/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Đối với bà L không có tranh chấp phần đất này nên HĐXX không xem xét.
[9] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX thống nhất.
[10] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) không có giá ngạch và chi phí xem xét, thẩm định, định giá theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26, 131, 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh C.
- Bà Nguyễn Bích V được quyền tiếp tục sử dụng phần đất thửa 237, tờ bản đồ 38, diện tích đo đạc thực tế 13,8m², tọa lạc tại khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh Đ là Hình 1, thuộc các mốc 1-2-3-6-7-1, theo sơ đồ đo đạc ngày 16/5/2025 và 29/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
(Có biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 04/3/2025 và sơ đồ đo đạc 16/5/2025 và 29/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo)
Bà V được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký phần đất theo bản án đã tuyên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Anh C nộp 300.000đ án phí DSST. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 2.500.000đ ông C đã nộp theo biên lai thu số 0008130 ngày 06/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S. Sau khi khấu trừ hoàn trả cho ông C nhận lại 2.200.000đ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định, định giá tổng cộng số tiền 3.809.680đ do ông C chịu (đã nộp tạm ứng và chi xong).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, các đương sự có được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Minh Trí |
Bản án số 50/2025/DS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 50/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn
