Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/DS-PT

Ngày: 24/6/2025

“Về việc tranh chấp hợp đồng vay

tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Đạt

ông Bùi Đức Tuấn

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Vũ Ngọc Quyên- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 24/6/2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 46/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 11/3/2025 của TAND thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐ-PT ngày 04/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 17/6/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: bà Phạm Hải P; sinh năm 1975

Nơi cư trú: số nhà M, khu đô thị V, phường H, thành phố H, Quảng Ninh.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Phạm Toàn T, sinh năm 1970;

Nơi cư trú: tổ F, khu C, phường Y, thành phố H, Quán G. Có mặt

* Bị đơn: bà Phạm Thị Y; sinh năm 1959

Nơi cư trú: số nhà H; tổ H, khu D, phường B, thành phố H, Quảng Ninh

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Quang L; nơi cư trú: số E, H, phường T, quận T, Hà Nội; địa chỉ nhận văn bản: số nhà E, đường B, phường H, thành phố H, Quảng Ninh. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

1

* Người kháng cáo: bị đơn bà Phạm Thị Y

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Phạm Hải P có quan điểm khởi kiện như sau: Ngày 28/6/2021 bà Phạm Hải P có cho bà Phạm Thị Y vay số tiền 6.150.000.000 đồng bằng tiền mặt tại nhà riêng của bà P. Sau khi nhận tiền và kiểm đủ số tiền đã vay, bà Y tự tay viết Giấy biên nhận vay tiền trong quyển sổ của bà P để xác nhận việc vay tiền. Sau đó hai bên lập thêm Giấy biên nhận vay tiền (bản đánh máy) ghi nhận lại nội dung bà Y vay bà P số tiền 6.150.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày 28/6/2021, tiền lãi trả hàng tháng theo lãi suất của Ngân hàng N áp dụng đối với khoản vay của bà P. Do thời điểm đó bà P đang thế chấp nhà và đất của bà P tại tổ D, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để ký hợp đồng tín dụng hạn mức tại Ngân hàng N chi nhánh H, để có tiền cho bà Y vay bà P đã phải nhận nợ số tiền 6.150.000.000 đồng tại ngân hàng. Tuy nhiên khi đến hạn, bà Y đã không thực hiện việc trả nợ cho bà P theo đúng thỏa thuận.

Từ khi vay tiền đến nay, bà Y mới trả cho bà P số tiền 250.000.000 đồng là một phần tiền lãi của khoản vay, chưa trả nợ gốc. Mặc dù bà P đã nhiều lần đôn đốc bà Y thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà Y vẫn không thực hiện theo cam kết. Do đó bà Phạm Hải P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Buộc bà Phạm Thị Y phải trả cho bà Phạm Hải P số tiền nợ gốc là 6.150.000.000 đồng.
  • Buộc bà Phạm Thị Y phải trả tiền lãi của số tiền nợ gốc tính từ ngày tháng 12/2021 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ với lãi suất theo lãi suất tiền vay của Ngân hàng N.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà Phạm Thị Y phải trả cho bà Phạm Hải P số tiền nợ gốc là 6.150.000.000 đồng và thay đổi yêu cầu đối với số tiền lãi, chỉ yêu cầu Tòa án buộc bà Phạm Thị Y phải trả tiền lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 1.600.000.000 đồng và buộc bà Phạm Thị Y phải tiếp tục trả tiền lãi kể từ ngày 12/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Tổng số tiền yêu cầu Tòa án buộc bà Phạm Thị Y phải trả cho bà Phạm Hải P tính đến ngày 11/3/2025 là 7.750.000.000 đồng.

Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình tham gia tố tụng thể hiện: Bà Phạm Thị Y xác nhận giữa bà Y và bà Phạm Hải P có ký Giấy biên nhận vay tiền ngày 28/6/2021 với số tiền ghi trên giấy là 6.150.000.000 đồng tuy nhiên đây là số tiền bao gồm tiền gốc bà Y vay bà P từ cuối năm 2020 và tiền lãi tính đến ngày

2

28/6/2021. Thời hạn vay là 12 tháng (kể từ ngày 28/6/2021 đến ngày 28/6/2022), lãi suất cho vay theo lãi suất của Ngân hàng N tại thời điểm vay là 8,5%/năm. Bà Y đã trả cho bà P được 250.000.000 đồng. Sau đó do ảnh hưởng của dịch C 19 đến công việc kinh doanh của bà Y nên bà Y chưa trả nợ được cho bà P như thỏa thuận. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có quan điểm khi xác định được chính xác số tiền bà Y còn nợ bà P thì bà Y sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà P.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 11/3/2025 của TAND thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh tuyên xử:

  1. Bà Phạm Thị Y có nghĩa vụ phải trả cho bà Phạm Hải P tổng số tiền còn nợ theo Giấy biên nhận vay tiền ngày 26/8/2021 tính đến ngày 11/3/2025 là 7.750.000.000đ (bảy tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng); trong đó: tiền nợ gốc là 6.150.000.000đ (sáu tỷ, một trăm năm mươi triệu đồng); tiền nợ lãi là 1.600.000.000đ (một tỷ, sáu trăm triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/3/2025) cho đến khi thi hành án xong, bà Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì áp dụng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 08/4/2025, bị đơn bà Phạm Thị Y kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm; chuyển hồ sơ cho toà án sơ thẩm giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có quan điểm đề nghị bổ sung yêu cầu về tính lãi, do bị đơn không thiện chí,cố tình kéo dài thời gian trả nợ nên yêu cầu bà Y trả lãi theo quy định của pháp luật chứ không đồng ý giảm lãi cho bà Y như tại cấp sơ thẩm.

Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận quan điểm của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn tại phiên toà phúc thẩm; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

3

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Y được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của bị đơn, xét thấy:

Căn cứ lời khai của các bên đương sự, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Ngày 28/6/2021, bà Phạm Hải P có cho bà Phạm Thị Y vay số tiền 6.150.000.000 đồng, có lập giấy biên nhận vay tiền, thời hạn vay là 01 năm và thỏa thuận lãi suất theo mức lãi của Ngân hàng N. Sau khi nhận tiền, bà Y đã ký xác nhận vào bản viết tay và bản đánh máy ngày 28/6/2021. Tại thời điểm giao dịch các bên hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch dân sự. Bị đơn bà Phạm Thị Y cũng thừa nhận có ký giấy vay tiền nêu trên, đồng thời xác nhận đã nhận đủ số tiền 6.150.000.000 đồng. Việc bà Y cho rằng số tiền vay ghi trong giấy biên nhận đã bao gồm cả nợ cũ và lãi phát sinh từ năm 2020 nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cũng như không có văn bản thể hiện việc cộng dồn nợ hay thanh toán lãi trước đó.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn xác nhận tổng số tiền bà Y đã trả cho bà P là 250.000.000 đồng cụ thể bà Y chuyển tiền vào tài khoản của bà P 3 lần vào các ngày 28/9/2021 là 50.000.000đ; ngày 30/10/2021 là 50.000.000đ; ngày 06/12/2021 là 50.000.000₫ và tháng 1 năm 2022 là 100.000.000₫ bằng tiền mặt tuy nhiên không có thoả thuận rõ ràng về việc số tiền này trả vào tiền gốc hay tiền lãi. Tại Giấy biên nhận vay tiền thoả thuận cụ thể nghĩa vụ của bà Y “có trách nhiệm trả lãi vào ngày 26 hàng tháng và phải chuyển tiền lãi với lãi suất theo quy định của Ngân hàng vào tài khoản của bà P mở tại Ngân hàng N để ngân hàng thu nợ lãi theo quy định”. Xét thấy, tổng số tiền này phù hợp với nghĩa vụ trả lãi hàng tháng như đã thỏa thuận. Trong suốt thời hạn vay (1 năm) và sau khi quá hạn, bà Y không có chứng cứ nào chứng minh các khoản thanh toán trên là để trả gốc. Do đó, có cơ sở xác định bà P thanh toán 250.000.000 đồng là một phần tiền lãi phải trả, không phải là tiền gốc. Việc bà Y không trả nợ cho bà P theo đúng thời hạn thỏa thuận trong Giấy biên nhận vay tiền là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự vì vậy phải có nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận đã ký giữa các bên.

Căn cứ theo thoả thuận giữa các bên bà Phạm Thị Y có trách nhiệm trả tiền lãi theo lãi suất của Ngân hàng N Chi nhánh H1 đang áp dụng đối với khoản

4

vay của bà Phạm Hải P tại Ngân hàng tại thời điểm bà P cho bà Y vay tiền. Như vậy hợp đồng vay tiền giữa bà P và bà Y là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi.

Căn cứ Văn bản ngày 10/3/2025 của Ngân hàng N Chi nhánh H1 - Phòng G đã xác nhận bà Phạm Hải P đã mở tín dụng khoản vay tại Ngân hàng N Chi nhánh H1 theo hợp đồng số 8017LAV201999720 ngày 19/11/2019, thời điểm bà P chấm dứt hợp đồng với ngân hàng là ngày 24/11/2023. Đồng thời Ngân hàng cũng đã cung cấp lãi suất áp dụng đối với khoản vay của bà P năm 2021 là 8%/năm, năm 2022 là 9%/năm, năm 2023 là 8%/năm; lãi suất đối với khách hàng cá nhân khác có khoản vay tương tự năm 2024 là 7%/năm và năm 2025 là 6,5%/năm. Lãi suất của Ngân hàng N là đảm bảo quy định của Bộ luật Dân sự, do đó thỏa thuận về xác định lãi suất như trên giữa bà P và bà Y là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện buộc bà Y phải thanh toán số tiền gốc và tiền lãi tính từ ngày 01/01/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/3/2025 theo mức lãi suất công bố của ngân hàng A theo đó tổng số tiền lãi bà Y phải thanh toán cụ thể như sau:

Tiền gốc là 6.150.000.000₫

Khoản tiền lãi trong hạn tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 28/6/2022 là 273.675.000 đồng

Khoản tiền lãi quá hạn tính từ ngày 29/6/2022 đến ngày 11/3/2025 là 1.920.968.750. Tổng số tiền lãi bà Y phải thanh toán cho bà P là : 2.194.643.750₫.

Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có quan điểm chỉ yêu cầu bà Y phải trả cho bà P tổng tiền lãi tính đến ngày 11/3/2025 là 1.600.000.000 đồng, xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm quy định của pháp luật, thể hiện thiện chí của nguyên đơn nên có cơ sở để chấp nhận do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Hải P về việc buộc bà Phạm Thị Y phải trả số tiền lãi 1.600.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có quan điểm do bị đơn không thiện chí trả nợ cho nguyên đơn, chây ỳ cố tình kéo dài thời gian nên nguyên đơn yêu cầu cấp phúc thẩm buộc bà Y phải thanh toán tiền lãi theo quy định pháp luật, không đồng ý việc miễn lãi như ở cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, sau khi xét xử, nguyên đơn không có kháng cáo với bản án sơ thẩm nên xét thấy quan điểm của nguyên đơn là vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm nên không có căn cứ để xem xét giải quyết.

5

Do đó có căn cứ xác định, bà Y có nghĩa vụ thanh toán cho bà P số tiền là 7.750.000.000₫ trong đó tiền gốc là 6.150.000.000đ và tiền lãi là 1.600.000.000₫.

Xét kháng cáo của bà Phạm Thị Y về việc không có tài liệu chứng minh về việc giao nhận tiền giữa bà P và bà Y thấy bản tự khai ngày 17/7/2024, bà Y đã xác nhận “ tôi có vay tiền của chị P, số tiền ghi trên giấy là đúng” giao dịch vay tiền giữa bà P và bà Y có đầy đủ giấy tờ xác nhận, chữ ký của các bên do đó không có cơ sở chấp nhận quan điểm này của bà Y.

Xét nội dung kháng cáo của bà Y cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì không đưa Ngân hàng N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử thấy: Việc bà P vay tiền từ ngân hàng là giao dịch dân sự độc lập giữa bà P và Ngân hàng, không liên quan đến giao dịch vay giữa bà P và bà Y. Bà P chỉ sử dụng khoản tiền vay từ ngân hàng để cho bà Y vay lại, nhưng giữa bà P và bà Y có lập giấy vay tiền riêng, có thỏa thuận rõ ràng về các điều kiện vay, không phải là giao dịch ba bên hoặc ủy quyền từ ngân hàng. Trong vụ án này, Ngân hàng không có tranh chấp, không có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc đòi nợ giữa bà P và bà Y. Do đó, không phải đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc bà P thỏa thuận với bà Y về mức lãi suất "áp theo lãi suất ngân hàng" là một điều kiện vay do các bên tự nguyện xác lập. Lãi suất này cũng không mâu thuẫn với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, và nguyên đơn đã tự nguyện điều chỉnh yêu cầu lãi suất tại phiên tòa sơ thẩm cho phù hợp, nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.

Từ những phân tích trên thấy rằng, tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện nội dung vụ án, đánh giá đúng bản chất giao dịch, căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên và quy định pháp luật để xác định nghĩa vụ trả nợ, bảo đảm đúng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Y.

[3] Về án phí :

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Phạm Thị Y là người cao tuổi tuy nhiên tại quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm bà Y không có đơn đề nghị miễn, giảm án phí kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm theo quy định tại Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức

6

thu,miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án nên toà án cấp sơ thẩm tuyên bà Y phải chịu án phí sơ thẩm là đúng quy định.

Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật; tuy nhiên khi nộp đơn kháng cáo, bà Y có nộp kèm đơn đề nghị miễn án phí phúc thẩm, xét thấy bà Y là thuộc trường hợp được miễn án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Y. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ: các Điều 116, 280, 357, khoản 4 Điều 422, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Hải P

  1. Bà Phạm Thị Y có nghĩa vụ phải trả cho bà Phạm Hải P tổng số tiền còn nợ theo Giấy biên nhận vay tiền ngày 26/8/2021 tính đến ngày 11/3/2025 là 7.750.000.000đ (bảy tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng); trong đó: tiền nợ gốc là 6.150.000.000₫ (sáu tỷ, một trăm năm mươi triệu đồng); tiền nợ lãi là 1.600.000.000₫ (một tỷ, sáu trăm triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/3/2025) cho đến khi thi hành án xong, bà Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì áp dụng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Y phải nộp 115.750.000đ (một trăm mười lăm triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7

Trả lại bà Phạm Hải P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.336.000đ (năm mươi bảy triệu, ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000573 ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Phạm Thị Y được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND thành phố Hạ Long;
  • - THA, VP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Duy Ước

8

9

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Ánh Bùi Đức Thanh Tạ Duy Ước

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 50/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger