TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2025/DS-PT
Ngày: 10 - 3 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và xử lý tài sản thế chấp.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Mạc Thị Chiên. |
| Các Thẩm phán: | Bà Trịnh Thị Bích Hạnh. |
| Bà Đào Thị Thủy. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đại - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 48/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.
Địa chỉ: Số D P, phường V, TP ., tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hòa H - Chuyên viên xử lý nợ.
Địa chỉ: Số B đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Ông Võ Văn B, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang, (vắng mặt).
2.2. Bà Lê Thị Ngọc H1, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang, (vắng mặt).
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Đơn khởi kiện ngày 30 tháng 8 năm 2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K và quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hòa H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1 có vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần K - Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số: 033/20/HĐTD/0901-6945 ngày 20/02/2020, nội dung cụ thể như sau: số tiền vay: 605.000.000 đồng (Bằng chữ: sáu trăm lẻ năm triệu đồng); ngày giải ngân theo khế ước nhận nợ số 033/20/KUNN ngày 21/02/2020; mục đích vay: bổ sung vốn trồng lúa, nuôi vịt; thời hạn vay: 36 tháng, được tính từ ngày tiếp theo sau ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất vay (viết tắt là “LSV”): 11.6%/năm, tính trên số dư nợ thực tế và thời gian vay vốn thực tế, lãi suất vay được số định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ.
Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng này, lãi suất vay sẽ được điều chỉnh trong các trường hợp sau: Sau mỗi 03 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân lần đầu tiên lãi suất vay của Khế ước nhận nợ sẽ thay đổi lãi suất vay thay đổi được tính như sau: Lãi suất vay bằng (=) Lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần K tại thời điểm giải ngân cộng (+) biên độ 4,23%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay); Khi Ngân hàng N1 tăng lãi suất cơ bản của loại tiền đang vay; Khi có thay đổi các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến lãi suất, mà các thay đổi đó làm cho lãi suất vay tăng lên.
Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, phạt chậm nộp lãi: 10%/năm, Hình thức thanh toán: Lãi trả 06 tháng/lần ngày trả lãi vay đầu tiên ngày 21/08/2020. Vốn gốc phân kỳ trả nợ gồm 03 kỳ, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 21/02/2021.
Hợp đồng tín dụng số 033/20/HĐTD/0901-6945 ngày 20/02/2020 được bảo đảm nghĩa vụ bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 033/20/HĐTC-BĐS/0901-6945 ngày 20/02/2020 và được công chứng tại Văn phòng C ngày 20/02/2020 và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 20/02/2020 theo đúng quy định pháp luật. Tài sản thế chấp bao gồm: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C800846, số vào sổ CH 000246 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/01/1995; thửa đất số 528, 529, 530, 536; tờ bản đồ số 3, diện tích 18,833m²; mục đích sử dụng T, LNK, CNm, 2L; thời hạn sử dụng đất: Lâu dài, 50 năm, 02/01/2065; tọa lạc tại ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Trong quá trình vay vốn, ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng đã liên lạc nhắc nhở nhiều lần nhưng phía ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1 vẫn không xử lý đúng theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Tạm tính đến ngày 12/09/2024, ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1, còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền cụ thể: vốn gốc 565.000.000 đồng, lãi trong hạn 41.541.277 đồng, lãi chậm trả 6.475.887 đồng, lãi quá hạn 218.653.839 đồng. Tổng cộng: 831.671.002 đồng (Bằng chữ: tám trăm ba mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm lẻ hai đồng).
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần K khởi kiện ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1 yêu cầu xem xét, giải quyết các nội dung sau: Buộc ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 831.671.002 đồng (Bằng chữ: tám trăm ba mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm lẻ hai đồng), trong đó: vốn gốc: 565.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 41.541.277 đồng; Lãi phạt chậm trả: 6.475.887 đồng; Lãi quá hạn: 218.653.839 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 033/20/HĐTD/0901-6945 ngày 20/02/2020 từ ngày 13/09/2024 cho đến ngày thanh toán dứt nợ; Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 033/20/HĐTC-BĐS/0901 - 6945 ngày 20/02/2020 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng; Buộc Ông Võ Văn B và bà Lê Thị Ngọc H1 phải chịu toàn bộ tiền án phí và các chi phí tố tụng khác có liên quan đến vụ án này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Võ Văn B vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Võ Văn B có ý kiến như sau:
Ông Bằng thừa N có thoả thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số: 033/20/HĐTD/0901-6945 ngày 20/02/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 033/20/HĐTC-BĐS/0901-6945 ngày 20/02/2020 với Ngân hàng thương mại cổ phần K.
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần K khởi kiện để yêu cầu thanh toán số tiền vay theo hợp đồng đã ký kết thì ông B cũng đồng ý. Về phần lãi chậm trả ông B yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Lê Thị Ngọc H1 vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K đối với bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 về việc yêu cầu bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 trả số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Không chấp nhận đối với yêu cầu tính lãi chậm trả của Ngân hàng Thương mại cổ phần K đối với bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1.
- Buộc bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền 818.582.579 đồng (trong đó gốc là 565.000.000 đồng, lãi trong hạn là 34.928.740 đồng, lãi quá hạn 218.653.839 đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả các khoản nợ gốc và lãi, lãi phát sinh thì Ngân hàng thương mại cổ phần K được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:
Tài sản 1: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 528, tờ bản đồ số 3, tại địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 800846, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000246 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/01/1995.
Ngày 20/5/2019 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã đăng ký sang tên ông Võ Văn B. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 033/20/HĐTC-BĐS/0901-6945; Quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, tỉnh Hậu Giang.
Tài sản 2: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 529, tờ bản đồ số 3, tại địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 800846, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000246 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/01/1995. Ngày 20/5/2019 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã đăng ký sang tên ông Võ Văn B. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 033/20/HĐTC-BĐS/0901-6945; Quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, tỉnh Hậu Giang.
Tài sản 3: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 530, tờ bản đồ số 3, tại địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 800846, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000246 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/01/1995. Ngày 20/5/2019 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã đăng ký sang tên ông Võ Văn B. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 033/20/HĐTC-BĐS/0901-6945; Quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, tỉnh Hậu Giang.
Tài sản 4: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 536, tờ bản đồ số 3, tại địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 800846, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000246 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/01/1995. Ngày 20/5/2019 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã đăng ký sang tên ông Võ Văn B. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 033/20/HĐTC-BĐS/0901-6945; Quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, tỉnh Hậu Giang.
- Trong trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K thì ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản vay.
Khi ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 tất toán toàn bộ khoản vay trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/9/2024, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K bao gồm phần lãi phạt chậm trả.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày: Nguyên đơn cho rằng theo một số bản án đã giải quyết vẫn chấp nhận lãi phạt chậm trả. Do đó nguyên đơn yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét tính phần lãi phạt chậm trả cho ngân hàng, còn đối với các phần khác của bản án sơ thẩm nguyên đơn thống nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm: Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bao gồm số tiền lãi phạt chậm trả, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngân hàng Thương mại cổ phần K khởi kiện yêu cầu bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 phải thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng số 033/20/HĐTD/0901-6945 ngày 20/02/2020 tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ thể: Vốn là 565.000.000 đồng; lãi trong hạn 41.541.277 đồng; lãi quá hạn 218.653.839 đồng và lãi phạt chậm trả là 6.475.887 đồng (tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm).
Xét tại Điều 7 của Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, nhưng lại thỏa thuận thêm phần tiền lãi phạt chậm trả lãi là lãi chồng lãi.
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm có quy định:
“1. Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
2. Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 1 Điều này”.
Như vậy Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định nguyên tắc “chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn”. Do vậy, nếu các bên đã thỏa thuận về lãi suất quá hạn (thông thường bằng 150% lãi suất vay trong hạn), lại còn quy định thêm tiền phạt chậm trả lãi là không đúng.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn có trả cho nguyên đơn được số tiền vốn là 40.000.000 đồng; lãi trong hạn là 174.590.823 đồng; lãi quá hạn là 2.114.410 đồng; lãi chậm trả là 6.612.537 đồng. Cấp sơ thẩm áp dụng Điều 12 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP khấu trừ số tiền lãi phạt chậm trả bị đơn đã trả 6.612.537 đồng là có căn cứ.
[3]. Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K là không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang là có căn cứ đúng pháp luật nên được chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K đối với bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 về việc yêu cầu bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 trả số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Không chấp nhận đối với yêu cầu tính lãi chậm trả của Ngân hàng Thương mại cổ phần K đối với bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1.
- Buộc bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền 818.582.579 đồng (trong đó gốc là 565.000.000 đồng, lãi trong hạn là 34.928.740 đồng, lãi quá hạn 218.653.839 đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả các khoản nợ gốc và lãi, lãi phát sinh thì Ngân hàng thương mại cổ phần K được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gồm: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại các thửa đất số 528; 529; 530 và thửa 536 thuộc tờ bản đồ số 3, tại địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 800846, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000246 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 02/01/1995. Ngày 20/5/2019 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã đăng ký sang tên ông Võ Văn B. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 033/20/HĐTC-BĐS/0901-6945; Quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, tỉnh Hậu Giang.
- Trong trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K thì ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản vay.
Khi ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1 tất toán toàn bộ khoản vay trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho ông Võ Văn B, bà Lê Thị Ngọc H1.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 phải có nghĩa vụ nộp án phí là 36.557.477 đồng (ba mươi sáu triệu, năm trăm năm mươi bảy ngàn, bốn trăm bảy mươi bảy đồng).
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải nộp án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 323.794 đồng (ba trăm hai mươi ba ngàn, bảy trăm chín mươi bốn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 15.643.000 đồng. Như vậy, Nguyên đơn ngân hàng Thương mại cổ phần K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 15.319.206 đồng theo biên lai số 0009926 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Chi phí tố tụng: Bị đơn Võ Văn B, Lê Thị Ngọc H1 phải nộp 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010214 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, thành án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10/3/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mạc Thị Chiên |
Bản án số 50/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp.
- Số bản án: 50/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
