|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2025/DS-PT Ngày 11-02-2025 “V/v Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước;
Ông Lê Thành Tôn;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Huỳnh Thị Đạm - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 12 tháng 12 năm 2024; ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 433/2024/TLPT-DS ngày 21/10/2024, về việc “Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 580/2024/QĐ-PT ngày 04/11/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé T, sinh năm 1956;
Người đại diện hợp pháp: Anh Lương Văn T1, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phạm Hoàng Đ – Công ty L2 - chi nhánh Đ1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số C, đường L, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1952;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Tổ Sản xuất số 2;
Địa chỉ: Khu B, ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 - Tổ trưởng Tổ Sản xuất số 2.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Anh Lương Văn Ú, sinh năm 1979;
3. Chị Lương Thị Kim C, sinh năm 1977;
4. Anh Lương Văn T1, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp;
5. Chị Lương Thị Kim L1, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang.
6. Ông Lê Văn D, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Bà Trần Thị Bé T là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Bé T trình bày:
Nguồn gốc đất ông Lương Văn D1 (chết) và bà Trần Thị Bé T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn A vào năm 2009 cho đến nay và đã được cấp quyền sử dụng. Trong quá trình sử dụng Hợp tác xã, xã T tự ý múc đường nước thoát trên phần đất nên làm mất trụ ranh. Do ông D1 chết nên phần đất phải đăng ký để cấp đổi giấy lại và phần đất liền kề của gia đình bà T là đất của bà Lê Thị N không chịu ký tên giáp ranh.
Bà N cho rằng đất của bà qua phần đất của bà T ngang khoảng 1m x dài 10m, khi khiếu nại đến Ủy ban xã để xác định ranh thì trụ ranh cấp đất của bà N và phần đường nước thì nằm toàn bộ trên phần đất của bà T.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà N trả lại phần đất lấn chiếm do ông Lương Văn D1 (ông D1 đã chết năm 2014) và bà Trần Thị B Tư đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ CH00468 ngày 30/10/2012 theo đo đạc thực tế là 6,3m² tại vị trí I thuộc thửa 1464, tờ bản đồ số 02 tại ấp T, xã T.
Ngày 21/11/2023 bà T khởi kiện bổ sung yêu cầu Tổ Sản xuất số 2, ấp T, xã T (Tập Đoàn B1) trả lại cho bà diện tích đất 6,3m² tại vị trí tranh chấp đất với bà N do hiện nay Tổ Sản xuất số 2 (Tập Đoàn B1) đang sử dụng đất tranh chấp làm đường thoát úng phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Bị đơn bà Lê Thị N và Người đại diện hợp pháp ông Lê Văn D trình bày:
Phần đất đang tranh chấp là của gia đình ông D do chị ông là bà Lê Thị N đứng tên nên việc gia đình bà B Tư kiện yêu cầu trả lại diện tích đất 6,3m² thì bà N không thống nhất. Trước đây ông D có bán phần đất cho ông Lương Văn D1 nhưng không phải phần đất đang tranh chấp này; phần đất bán cho ông D1 chỉ làm giấy tay. Phần đất này trước khi bán cho ông D1 thì ông có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông bán cho ông D1 ngang, dài bao nhiêu thì ông không nhớ, bán xong thì ông D1 đắp bờ đất cao như hiện nay, giáp với phần đất của ông T2. Ông xác định là sau khi ông bán đất cho ông D1 thì ông D1 mới đổ đất thành hiện trạng đường bờ như hiện nay.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà Bé T thì ông đại diện cho bà N không đồng ý, yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đường nước hiện nay vì phần đường nước này đã có rất lâu rồi và nằm bên phần đất của gia đình bà N cũng là đường nước duy nhất dùng để thoát úng trong khu vực này nên yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đường nước hiện nay. Đối với diện tích đo đạc thực tế theo sơ đồ là 6,3m² thì không có ý kiến.
- Ngày 21/11/2023, bị đơn bà N có đơn phản tố yêu cầu bà Bé T trả lại cho bà diện tích đất 6,3m² tại vị trí I, phần đất này là đường nước chống úng do Tổ Sản xuất số 2 quản lý sử dụng. Đối với Tổ Sản xuất số 2 thì bà N không tranh chấp vẫn giữ y hiện trạng 6,3m² cho Tổ Sản xuất số 2 phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổ Sản xuất số 2 do ông Nguyễn Văn L - Tổ trưởng trình bày:
Đường nước thoát úng này có rất lâu khoảng 14 năm. Đường nước này là duy nhất để thoát úng cho 20ha đất trong khu vực này và từ khi có đường nước này đến nay không có ai ngăn cản hay tranh chấp, thực tế phần đất này của ai hoặc do ai đứng giấy đất thì ông không rõ, chỉ biết là Tổ hợp tác đã sử dụng từ lâu. Do đó đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, rất mong Tòa án xem xét đến tình hình chung của các hộ dân chỉ có một đường nước thoát úng duy nhất nếu lắp đường nước này sẽ ảnh hưởng đến việc thoát úng của các hộ nông dân.
Đối với phần khởi kiện bổ sung của nguyên đơn bà Trần Thị Bé T yêu cầu Tổ Sản xuất số 2 trả lại phần đất đường nước 6,3m², Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý bổ sung, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giap nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho Tổ Sản xuất số 2 đã có nhận văn bản tố tụng đầy đủ nhưng không gửi Văn bản ý kiến và cũng không đến Tòa án tham gia các phiên hòa giải và tham gia các phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Văn Ú, Lương Thị Kim C, Lương Thị Kim L1 trình bày:
Anh Ú, chị C, chị L1 là con của ông Lương Văn D1 và bà Trần Thị Bé T thống nhất theo trình bày của anh Lương Văn T1 đại diện theo ủy của bà Trần Thị Bé T, không có ý kiến bổ sung gì thêm.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn D trình bày:
Phần đất của bà Lê Thị N đang tranh chấp với bà Trần Thị Bé T do ông D1 trực tiếp canh tác nên ông giữ y ý kiến trình bày tại phần ông đại diện theo ủy quyền của bà N không bổ sung gì thêm.
Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 147,157, 158, 163, 164, 227, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 245, Điều 248, Điều 253 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 171 Luật Đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Bé T (do anh Lương Văn T1 đại diện theo ủy quyền);
- Giao cho Tổ Sản xuất số 2, ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp - Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn L tổ trưởng đại diện tiếp tục quản lý sử dụng để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hiện trạng đất là đường nước thoát úng có diện tích 6,3m², tại vị trí số I, thuộc một phần thửa số 1464, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp do ông Lương Văn D1 và bà Trần Thị Bé T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ CH00468 ngày 30/10/2012. có vị trí như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị N về việc yêu cầu bà Trần Thị Bé T (do anh Lương Văn T1 đại điện) trả lại cho bà N diện tích 6,3m² đất đường nước tại vị trí số I, thuộc một phần thửa số 1464, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp theo Sơ đồ đo đạc số: 19/2022/SĐĐ/CNVPĐKĐĐTPHN ngày 06/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H.
Buộc Tổ Sản xuất số 2, ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp - Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn L tổ trưởng phải trả giá trị đất cho nguyên đơn bà Trần Thị Bé T (do anh Lương Văn T1 làm đại diện theo ủy quyền) với số tiền là 661.000 đồng.
- Vị trí I gồm các Mốc 1,2,3,1 diện tích đất là 6,3m², theo Sơ đồ đo đạc Số 19/2022/SĐĐ/CNVPĐKĐĐTPHN ngày 06/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H.
(Hiện nay phần đất 6,3m² đường nước thoát úng do nguyên đơn bà Trần Thị Bé T và ông Lương Văn D1 đứng tên quyền sử dụng, để đảm bảo cho quá trình thi hành án và quyền sử dụng đất của các đương sự, thì diện tích đất tranh chấp vẫn để cho nguyên đơn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng phần diện tích đất tranh chấp này sẽ được dùng làm đường nước thoát úng cho các hộ dân có đất sản xuất trong khu vực do Tổ Sản xuất số 2, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn L ngụ ấp T, xã T quản lý, sử dụng để thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp nên nguyên đơn bà Trần Thị Bé T không được sử dụng vào mục đích nào khác và cũng không được san lắp).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền là 6.859.000 đồng do ông Lương Văn T1 (đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Bé T) chi tạm ứng trước. Do đó:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Bé T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do nguyên đơn bà Trần Thị Bé T là người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên nguyên đơn bà Trần Thị Bé T không phải nhận lại tiền tạm ứng án phí.
- Buộc bị đơn bà Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do bị đơn bà Lê Thị N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Buộc Tổ Sản xuất số 2 - Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn L tổ trưởng phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lương Văn Ú, chị Lương Thị Kim C, anh Lương Văn T1, chị Lương Thị Kim L1, ông Lê Văn D không phải chịu án phí.
- Buộc bị đơn bà Lê Thị N có nghĩa vụ liên đới nộp 3.429.500 đồng (làm tròn là 3.430.000 đồng) để trả lại cho ông Lương Văn T1 (đại diện theo ùy quyền của bà Trần Thị Bé T).
- Buộc Tổ Sản xuất số 2 ấp T, xã T - Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn L phải nộp 3.429.500 đồng (làm tròn là 3.430.000 đồng) nộp để trả lại cho ông Lương Văn T1 (đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Bé T).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lương Văn Ú, chị Lương Thị Kim C, anh Lương Văn T1, chị Lương Thị Kim L1, ông Lê Văn D không phải chịu chi phí tố tụng.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Bé T kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm buộc Tổ sản xuất số 2 ấp T, xã T, phải trả 6,3m² đất cho bà B Tư đất thuộc thửa số 1464, tờ bản đồ số 2, toạ lạc ấp T, xã T, do ông Lương Văn D1 và bà Trần Thị Bé T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vào sổ số: CH00468 ngày 30/10/2012, đất có vị trí gồm các mốc 1-2-3-1, diện tích là 6,3m² theo sơ đồ đo đạc.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt anh T1, Luật sư Đ, Đại diện người liên quan Tổ sản xuất số 2 là ông L có đơn trình bày Tổ sản xuất số 2 không có yêu cầu gì trong vụ án. Thống nhất theo yêu cầu ý kiến kháng cáo của bà T. Bị đơn bà N và những người liên quan khác vắng mặt. Các đương sự có mặt và khẳng định đã xuất trình thêm đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án và không có khiếu nại yêu cầu gì thành phần những người tham gia tố tụng.
Bà Bé T do anh T1 đại diện trình bày: Bà T yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 6,3m² đất này cho bà T vì bà N không đồng ý ký xác định ranh đất. Bà T vẫn để Tổ sản xuất số 2 sử dụng cả đường nước qua phần đất của bà T như trước đây, nếu có tranh chấp gì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Luật sư Đ trình bày: Căn cứ tờ trình bày ý kiến của đại diện Tổ sản xuất số 2 là ông L cũng như của ông T3 thể hiện không có yêu cầu gì trong vụ án, thống nhất ý kiến của bà T. Do đó đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T. Công nhận diện tích đất tranh chấp là 6,3m² cho bà T.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Bé T, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận quyền sử dụng đất 6,3m² cho bà Bé T, không giao diện tích đất 6,3m² đất cho Tổ sản xuất số 2 và trả giá trị đất cho bà T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng hay có yêu cầu gì khác.
[2] Về nội dung tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị Bé T yêu cầu bị đơn bà Lê Thị N và ngày 21/11/2023 khởi kiện bổ sung yêu cầu Tổ Sản xuất số 2 ấp T, xã T trả lại cho bà T diện tích đất 6,3m² tại vị trí số I thuộc một phần diện tích 9.222,9m², thửa số 1464, tờ bản đồ số 2, do ông Lương Văn D1 và bà Trần Thị Bé T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng hiện nay do Tổ Sản xuất số 2 đang quản lý sử dụng làm đường thoát úng phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa xét: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Lương Văn D1 (ông D1 chết năm 2014) và bà Trần Thị Bé T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn A theo Hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 13/12/ 2010. Ông D1, bà Bé T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ CH00468 ngày 30/10/2012. Khi nhận chuyển nhượng là đất trồng lúa sau đó ông D1 làm bờ bao xung quanh để làm nhà máy xay lúa, trong diện tích đất này có một đường nước nhỏ thoát úng do Tổ Sản xuất số 2 quản lý sử dụng để thoát úng trong khu vực 2 ấp T, xã T. Quá trình sử dụng bồi lắng nên Ủy ban nhân dân xã T có trích phần kinh phí từ nguồn thủy lợi phí cho Tổ sản xuất số 2 nạo vét nội đồng tạo thuận lợi thoát úng cho nông dân nên đường nước này có hiện trạng như hiện nay.
[2.1] Bà T tranh chấp vì đất của bà T, ông D1. Ông D1 chết bà T đăng ký quyền sử dụng đất lại thì bà N không chịu ký tên giáp ranh nên tranh chấp. Bà T khởi kiện bà N là bị đơn; theo thẩm định thực tế diện tích đất tranh chấp là 6,3m² tại vị trí I thuộc một phần thửa 1464, tờ bản đồ số 02, tại ấp T, xã T. Hiện nay đất này nằm trong một phần đường nước Tổ Sản xuất số 2 đang quản lý sử dụng cho việc thoát úng trong khu vực 2, ấp T, xã T.
Xét yêu cầu của bà T: Theo Công văn số: 3659/UBND - HC ngày 09/12/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố H (BL 146) cung cấp thông tin như sau: “Theo sơ đồ đo đạc số 19/2022/SĐĐ/CNVPĐKĐĐTPHN của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H đối chiếu với bản đồ địa chính do cơ quan chuyên môn quản lý, phần đất tranh chấp diện tích 6,3m² tại vị trí I thuộc một phần thửa đất số 1464, tờ bản đồ số 2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên ông Lương Văn D1 và bà Trần Thị Bé T và đường nước thoát úng này là để phục vụ sản xuất nông nghiệp, không được san lắp”.
Như vậy xác định diện tích đất 6,3m² đất đường nước này thuộc quyền sử dụng của ông D1 và bà Bé T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải của bà Lê Thị N nhưng do đây là đường thoát úng và đường nước này đã được hình thành trước khi cấp quyền sử dụng cho ông D1, bà T nhưng thời điểm đó thì diện tích nhỏ. Sau này Ủy ban nhân xã T có trích kinh phí cho nạo vét cho thông thoáng để phục vụ sản xuất nông nghiệp và khi nạo vét thì không có họp dân và cũng không có bồi thường và theo Điều 253 Bộ Luật dân sự quy định.
Do đó nguyên đơn bà Bé T yêu cầu bị đơn bà N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tổ Sản xuất số 2, ấp T, xã T (Tập Đoàn B1) trả lại cho bà diện tích đất 6,3m² tại vị trí số I thuộc một phần thửa số 1464, tờ bản đồ số 2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên ông D1, bà Bé T hiện nay do Tổ Sản xuất số 2 (Tập Đoàn B1) đang sử dụng làm đường thoát úng phục vụ sản xuất nông nghiệp là có một phần căn cứ.
[2.2] Xét việc bị đơn bà N phản tố yêu cầu bà Bé T trả lại cho bà N diện tích 6,3m². Đồng thời ông D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người đang canh tác đất của bà N) cho rằng diện đất 6,3m² đường nước thoát úng là đất của bà N và do bà N được cấp quyền sử dụng nhưng do có tranh chấp nên không xin cấp lại được.
Như nhận định trên theo công văn 3659/UBND-HC ngày 09/12/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố H (BL 146) cung cấp thông tin: “phần đất tranh chấp diện tích 6,3m² tại vị trí I thuộc một phần thửa đất số 1464, tờ bản đồ số 2, cấp quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn D1 và bà Trần Thị Bé T. Vị trí II diện tích 2430,3m² thuộc thửa 2227,tờ bản đồ số 2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên bà Lê Thị N.
Theo Công văn số 637/CNVPĐKĐĐ ngày 19/4/2024 có ý kiến cung cấp thông tin như sau: “Đối với thửa đất 2227, tờ bản đồ số 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên bà Lê Thị N thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã T ngày 18/3/2022. Sau đó Sở T4 ký cấp giấy chứng nhận cho bà Lê Thị N vào ngày 20/4/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H chuyển trả kết quả (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính) sang bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND thành phố theo quy trình”.
Như vậy lời trình bày của bị đơn không phù hợp, ngoài ra bà N không có chứng cứ gì chứng minh là đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của bà N. Do đó việc bà N có phản tố yêu cầu bà Bé T trả lại diện tích đất 6,3m² là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Đối với Tổ Sản xuất số 2 do ông Nguyễn Văn L - Tổ trưởng làm đại diện. Tòa án đã có Thông báo nội dung khởi kiện bổ sung của bà Bé T yêu cầu Tổ Sản xuất số 2 phải trả lại cho bà B Tư diện tích 6,3m² đường nước nêu trên, ông L đã nhận Thông báo và các văn bản tố tụng đầy đủ nhưng không đến tham gia hòa giải và cũng không có văn bản ý kiến đối phần bà Bé T khởi kiện bổ sung và cũng không đến tham gia phiên tòa. Do đó căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ là bản khai ngày 26/8/2022 của ông Nguyễn Văn L để xem xét giải quyết.
[2.4] Xét thấy hiện nay phần đường nước này Tổ Sản xuất số 2 đang quản lý sử dụng cho việc thoát úng trong khu vực 2, ấp T, xã T. Theo trình bày của ông L tại Bản khai ngày 26/8/2022 thì đường nước thoát úng này có rất lâu khoảng 14 năm. Đường nước này là duy nhất để thoát úng cho 20 ha đất trong khu vực này, ông L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và xem xét đến tình hình chung của các hộ dân chỉ có một đường nước thoát úng duy nhất nếu lắp đường nước này sẽ ảnh hưởng đến việc thoát úng của các hộ nông dân.
Xét việc trình bày của ông Nguyễn Văn L phù hợp công văn số 489/UBND-ĐC ngày 10/10/2022 của Ủy ban nhân dân xã T cung cấp thông tin việc sử dụng đường nước phục vụ sản xuất lúa của các hộ dân.
Do đó nên giữ y đường nước này cho Tổ Sản xuất số 2 quản lý sử dụng để thoát úng cho các hộ dân trong khu vực này nhưng Tổ Sản xuất số 2 phải có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Bé T theo giá Hội đồng định giá là 105.000 đồng/m².
Tuy nhiên, hiện nay phần đất 6,3m² đường nước thoát úng do nguyên đơn bà Bé T, ông D1 đứng tên quyền sử dụng, để đảm bảo cho quá trình thi hành án và quyền sử dụng đất của các đương sự, thì diện tích đất tranh chấp vẫn để cho nguyên đơn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng phần diện tích đất tranh chấp này sẽ được dùng làm đường nước thoát úng cho các hộ dân có đất sản xuất trong khu vực do Tổ Sản xuất số 2 quản lý, sử dụng để thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp nên bà Bé T không được sử dụng vào mục đích nào khác và cũng không được san lắp.
Đồng thời trong quá trình sử dụng quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác sẽ chấm dứt theo quy định tại Điều 256 của Bộ luật dân sự 2015.
[3] Đồng thời căn cứ vào đây để quyết định về án phí; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm bà T kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm. là yêu cầu Tổ Sản xuất số 2 trả đất vì bà yêu cầu giữ nguyên diện tích đất của bà để bà đăng ký sử dụng đất.
[4] Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm thì yêu cầu kháng cáo của bà T ngoài những nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm thì bà T cung cấp chứng cứ thêm hình ảnh đất tranh chấp chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là những hình ảnh về phần đất tranh chấp là 01 phần diện tích Tổ sản xuất số 2 sử dụng thuộc quyền sử dụng đất của bà T.
[5] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy qua chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện và ý kiến tại phiên tòa phúc thẩm thì đất được xác định quyền sử dụng đất thuộc của bà T, ông D1. Những người liên quan con bà T không có ý kiến trong đất tranh chấp. Ông D1 chết bà T làm thủ tục đăng ký lại quyền sử dụng đất thì bà N không chịu ký tên giáp ranh nên tranh chấp. Tại Tòa án cấp sơ thẩm thì Tổ sản xuất số 2 thì ông L đại diện chỉ ý kiến yêu cầu tiếp tục sử dụng đường nước để phục vụ sản xuất: không tham gia giải quyết vụ án, không có đơn yêu cầu công nhận đất tranh chấp.
Xét kháng cáo của bà T đất của bà T đường nước Tổ sản xuất số 2 sử dụng theo anh T1 trình bày hơn 150m² nhưng chỉ tranh chấp phần đất đi ngang qua giáp đất bà N là 6,3m² nhưng giải quyết công nhận đất cho Tổ sản xuất số 2 diện tích nhỏ trong phần diện tích đang sử dụng. Do đó bà T không đồng ý kháng cáo yêu cầu xác định diện tích 6,3m² đất của bà T; bà T không đồng ý nhận giá trị quyền sử dụng đất và đồng ý để diện tích đất tranh chấp cho Tổ sản xuất số 2 tiếp tục sử dụng là có căn cứ.
Đồng thời, sau khi bà T kháng cáo thì ông L có đơn: Tổ sản xuất số 2 không có yêu cầu gì trong vụ án. Thống nhất ý kiến kháng cáo của bà T nên chấp nhận việc bà T vẫn đồng ý cho Tổ sản xuất số 2 sử dụng đường nước để bơm nước sản xuất, không ảnh hưởng quyền lợi của Tổ sản xuất số 2 trong việc sử dụng đường nước. Do đó nên cần sửa một phần bản án sơ thẩm.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định sửa một phần bản án sơ thẩm, kể cả phần chi phí tố tụng đối với Tổ sản xuất số 2. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên bà Bé T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Đồng thời do bà B T là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Bé T.
- Sửa một phần bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Bé T đối với bà Lê Thị N, Tổ Sản xuất số 2.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị N về việc yêu cầu bà Trần Thị Bé T trả lại cho bà N diện tích 6,3m² đất đường nước tại vị trí số I, thuộc một phần thửa số 1464, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp theo Sơ đồ đo đạc số: 19/2022/SĐĐ/CNVPĐKĐĐTPHN ngày 06/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H.
Công nhận đất tranh chấp diện tích 6,3m², tại vị trí số I, thuộc một phần thửa số 1464, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp do ông Lương Văn D1 và bà Trần Thị Bé T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ CH00468 ngày 30/10/2012 cho bà Trần Thị Bé T.
Vị trí I gồm các mốc 1,2,3,1 diện tích đất là 6,3m², theo Sơ đồ đo đạc Số 19/2022/SĐĐ/CNVPĐKĐĐTPHN ngày 06/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền là 6.859.000 đồng do ông Lương Văn T1 (đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Bé T) chi tạm ứng trước. Do đó buộc bị đơn bà Lê Thị N có nghĩa vụ liên đới nộp 6.859.000 đồng để trả lại cho bà Trần Thị Bé T.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Bé T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do nguyên đơn bà Trần Thị Bé T là người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên nguyên đơn bà Trần Thị Bé T không phải nhận lại tiền tạm ứng án phí.
- Buộc bị đơn bà Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do bị đơn bà Lê Thị N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tổ Sản xuất số 2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lương Văn Ú, chị Lương Thị Kim C, anh Lương Văn T1, chị Lương Thị Kim L1, ông Lê Văn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Tổ Sản xuất số 2, anh Lương Văn Ú, chị Lương Thị Kim C, anh Lương Văn T1, chị Lương Thị Kim L1, ông Lê Văn D không phải chịu chi phí tố tụng.
- Nguyên đơn bà Trần Thị Bé T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 50/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 50/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Trần Thị Bé T BĐ: Lê Thị N
