Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/DS-PT

Ngày 07 tháng 3 năm 2025

V/v tranh chấp quyền sử

dụng đất, di dời nhà trả đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm

Các Thẩm phán: ông Trương Văn Hai và ông Đào Chí Keo;

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trường San, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 369/2024/TLPT- DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 479/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 35/2025/QĐXXPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • - Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1965;
  • - Ông Trần Hữu D, sinh năm 1978;
  • - Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1981;
  • - Bà Trần Thị D1, sinh năm 1984;
  • - Ông Trần Văn T, sinh năm 1989;
  • - Bà Trần Thị D2, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ A, Khu dân cư Ấ, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của bà B, ông D, bà Đ, bà D1, bà D2: Ông Trần Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ A, Khu dân cư Á, xã P, huyện A, tỉnh An Giang, có mặt.

2. Bị đơn:

Bà Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ A, Khu dân cư Ấ, xã P, huyện A, tỉnh An Giang, có mặt.

3. Người kháng cáo:

bà Huỳnh Thị B, ông Trần Hữu D; bà Trần Thị Đ; bà Trần Thị D1; ông Trần Văn T; bà Trần Thị D2 là nguyên đơn, do ông Trần Văn T đại diện theo ủy quyền, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:

Năm 1994, ông Trần Văn Q (chồng bà B, cha ông Tròn, ông D, bà Đ, bà D2, bà D1) có nhận chuyển nhượng một phần đất ngang 5m, dài tới mé sông từ bà Trần Thị P. Lúc này đất còn nối liền từ đồng đến mé sông và trên phần đất dưới mé sông có cho ông Trần Văn T2 (cha chồng bà Bé T1) cất nhà ở, sau khi ông T2 chết thì ông Trần Văn T3 và bà Nguyễn Thị Bé T1 ở cho đến nay, diện tích đất ngang 5m, dài khoảng 12m, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cho ông T2 cất nhà ở chỉ nói miệng, không có gì chứng minh. Năm 2015, ông T được cấp quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 153,8 m² đất lúa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX788697 và phần đất diện tích 932,5 m² đất ở và đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX788714 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp cùng ngày 13/3/2015. Đầu năm 2023, bà Bé T1 xây nhà vệ sinh lấn chiếm qua phần đất của nguyên đơn.

Nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với phần đất ngang 5m, dài 10m tọa lạc tại ấp P, xã P thuộc quyền sử dụng của đồng nguyên đơn. Buộc bà Bé T1 phải di dời nhà, vật kiến trúc để trả lại phần đất có diện tích nêu trên.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé T1 trình bày:

Phần đất mà bà cất nhà ở và nguyên đơn tranh chấp có nguồn gốc từ ông nội chồng để lại cho cha chồng là ông T2 và gia đình bà đã sử dụng ổn định. Phần đất mà gia đình ông T mua của bà P là đất nông nghiệp chứ không phải phần đất mé sông nên không đồng ý di dời nhà trả đất theo yêu cầu của nguyên đơn.

Tại Bản án sơ thẩm số 479/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị B, ông Trần Hữu D, bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị D1, ông Trần Văn T, bà Trần Thị D2 về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích qua đo đạc là 79,4m² gồm các điểm 5,6,11,12 và yêu cầu buộc bà Bé T1 di dời phần căn nhà có các điểm 7,8,9,10 diện tích 38,2m² theo bản vẽ hiện trạng đất tranh chấp ngày 17/4/2024 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh A.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2024, các nguyên đơn: Bà B, ông D, bà Đ, bà D1, ông T, bà D2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Ông Trần Văn T, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm, yêu cầu buộc bị đơn di dời nhà, trả lại đất cho nguyên đơn.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé T1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn do ông Trần Văn T đại diện, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 479/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Các nguyên đơn bà Huỳnh Thị B, ông Trần Hữu D, bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị D1, ông Trần Văn T, bà Trần Thị D2 kháng cáo trong thời hạn luật định được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Nguyên đơn do ông T đại diện cho rằng, diện tích đất tranh chấp do bà Bé T1 đang sử dụng có nguồn gốc của ông Trần Văn Q sang nhượng lại của bà Trần Thị P theo Giấy nhượng đất ngày 28/3/1994. Năm 1994, ông Trần Văn T2 là cha của ông Trần Văn T3 (chồng bà Bé T1) được ông Q cho cất nhà ở nhờ, sau khi ông T2 chết thì ông T3 và bà B1 T1 tiếp tục ở và cất thêm nhà vệ sinh lấn chiếm đất của nguyên đơn. Nguyên đơn cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn T đứng tên đối với diện tích đất 153,8 m2 (đất lúa) và diện tích 932,5 m² (đất ở và đất trồng cây lâu năm) cùng với giấy nhượng đất ngày 28/3/1994 giữa ông Q và bà P.

Tại bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 17/4/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh A thể hiện: Phần đất tranh chấp có diện tích 79,4m² gồm các điểm 5,6,11,12 trong đó phần có các điểm 7,8,9,10 diện tích 38,2m² là nhà gỗ. Qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/01/2024 thể hiện căn nhà của bà Bé T1 đang sử dụng có trên phần đất tranh chấp, kết cấu: nhà sàn, nống đá, sàn ván tạp, mái và vách tole.

Tại Công văn số 747/UBND-NC ngày 14/6/2024, Ủy ban nhân dân huyện A có ý kiến: Phần đất tại các điểm 5,6,11,12 có diện tích 79,4 m² chưa đủ điều kiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật do là đất trầm thủy ven sông.

Như vậy, diện tích đất nguyên đơn tranh chấp là 79,4 m² hiện do bị đơn bà T1 đang sử dụng, có nhà ở trên đất, không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy nhượng đất ngày 28/3/1994 do nguyên đơn cung cấp thể hiện đất bà P chuyển nhượng cho ông Q là đất công thổ ngang 5m, dài tới đường thét, luôn cả vườn cây và một cái nhà, 08 công đất ruộng.

Kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm đối với ông Trần Văn R, ông Trần Văn N và ông Lê Văn Đ1 thể hiện gia đình bà T1 về phần đất tranh chấp sinh sống từ lâu, phần đất bà P bán cho gia đình ông T là phần đất trong mé đường chứ không phải phần đất đang tranh chấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T (đại diện nguyên đơn) và bà T1 đều xác định, trước đây khi hòa giải tranh chấp tại Ban ấp, bà P có nói là không bán cho ông Q phần đất tranh chấp. Điều này phù hợp với kết quả xác minh đối với ông Lê Văn Đ1-Trưởng ấp P (bút lục 114). Ngoài ra, ông T khai khi ông Q mua đất của bà P đã có căn nhà của ông T2 trên đất là không phù hợp với nội dung thỏa thuận trong giấy nhượng đất ngày 28/3/1994 (không ghi nhận có nhà của ông T2 trên đất bà P chuyển nhượng cho ông Q).

Xét thấy, diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của ông T2 (cha ông T3) sử dụng cất nhà từ lâu, sau khi ông T2 chết để lại cho ông T3 và bà bé T1 sử dụng cho đến nay. Nguyên đơn cho rằng ông T2 ở nhờ trên đất của ông Q nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Phía nguyên đơn không có quá trình sử dụng đất và hiện trạng là đất trầm thủy ven sông, được Ủy ban nhân dân huyện A xác định chưa đủ điều kiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác nên không có cơ sở chấp nhận.

Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp nên được chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, chi phí đo đạc là 1.569.240 đồng, phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng, do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng (đã nộp xong).

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn nên được chấp nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm:

nguyên đơn được miễn nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị B, ông Trần Hữu D, bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị D1, ông Trần Văn T, bà Trần Thị D2;

    Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 479/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị B, ông Trần Hữu D, bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị D1, ông Trần Văn T, bà Trần Thị D2 về việc: được công nhận quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích qua đo đạc là 79,4m² (gồm các điểm 5,6,11,12) và buộc bà Nguyễn Thị Bé T1 di dời phần căn nhà có diện tích 38,2m² (gồm các điểm 7,8,9,10) để trả lại diện tích đất 79,4 m², theo bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 17/4/2024 của Văn phòng Đ2 chi nhánh A.

  2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn nộp.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện An Phú;
  • - Chi cục THADS huyện An Phú;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà trả đất

  • Số bản án: 50/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà trả đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đất, chưa có giấy chứng nhận QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger