Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC NINH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 03/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kiều Chinh

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Xuân Đạm

Ông Đỗ Văn Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, Tên gọi khác: T1. Sinh năm: 1986, tại Bình Phước. Giới tính: Nam. HKTT và chỗ ở: Khu phố TB, thị trấn TB, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 11/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 (đã chết). Con bà Đỗ Thị M, sinh năm 1958. Bị cáo có 03 anh chị em, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1988.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Văn T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Lộc Ninh từ ngày 22/12/2023 đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã TH, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

Bà Mai Thị P, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã TH, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã LT, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

Người chứng kiến: Hà Quốc H1, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã TH, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13/10/2023, Nguyễn Văn T đang ở nhà tại khu phố TB, thị trấn TB, huyện Bù Đốp, T muốn sử dụng ma túy nên lấy lá cây cần sa cắt nhỏ trộn với thuốc lá gói vào tờ giấy bạc cất giấu trong túi áo để sử dụng. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Hà Quốc H1 điều khiển xe mô tô biển số: 93G1 – 00988 đến nhà chơi nên T rủ H1 đi đến huyện Lộc Ninh sử dụng ma túy cần sa, H1 đồng ý. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô trên chở T đến khu vực chợ Lộc Ninh, H1 đứng đợi bên ngoài, còn T đi bộ vào chợ mua 01 chai nước, 01 cây bút bi và đến khu vực xóm Đảo thuộc khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh gặp một người đàn ông (chưa xác định nhân thân, lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy Heroin, người đàn ông nói với T ma túy để trong gói thuốc Hero dưới chân cầu, T đi lại lấy ma túy gồm 02 đoạn ống hút hàn kín (màu trắng và màu vàng sọc trắng) rồi ra nói H1 chở đi lòng vòng khu vực thị trấn Lộc Ninh để tìm nơi sử dụng ma túy. T hướng dẫn H1 chạy đến khu vực chòi trong lô cao su thuộc khu phố Ninh Hòa, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh thì dừng lại. T đi vào chòi ngồi xuống nền xi măng, lấy 02 đoạn ống hút hàn kín chứa ma túy Heroin bỏ xuống nền xi măng, dùng quẹt gas đem theo sẵn hơ vào bên hông chai nước, bẻ một đầu cây bút bi cắm vào chai nước, T tiếp tục lượm một tờ giấy bạc quấn vào đầu bút bi để làm bình dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi chuẩn bị xong, T lấy cần sa trộn với thuốc lá trong tờ giấy bạc ra, dùng quẹt gas hơ một đầu của đoạn ống hút màu vàng sọc trắng đổ ma túy trong ống hút vào tờ giấy bạc đang đựng cần sa, lấy mảnh chai nhọn cắm vào viên ma túy Heroin bỏ vào đầu bút bi đã bọc giấy bạc có nhét cần sa rồi dùng quẹt gas hơ vào đầu bút bi cho khói bốc lên, rồi dùng mũi sử dụng. Sau khi T sử dụng xong thì sẽ đến lượt H1 sử dụng, T đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Lộc Ninh phối hợp với Công an thị trấn Lộc Ninh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục: 01 – 02, 87 – 105, 106 – 115)

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội. T là người sử dụng ma túy, do muốn sử dụng ma túy cùng với Hà Quốc H1 nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

Căn cứ kết luận giám định số: 1121/KL – KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, chất màu xám (ký hiệu M1) bên trong 01 gói nylon và đoạn ống hút (ký hiệu M1) là ma túy, loại Heroin, khối lượng: 0,1602 gam; Thảo mộc khô bên trong 01 gói giấy bạc (ký hiệu M2) là ma túy, loại cần sa, khối lượng 0,8115 gam (Bút lục: 78). Hoàn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (khối lượng M1: 0,0975gam), 02 đoạn ống nhựa, 01 gói nylon.

Căn cứ kết quả xét nghiệm ma túy, Nguyễn Văn T và Hà Quốc H1 đều dương tính với ma túy loại Heroin và cần sa.

Vật chứng thu giữ: 01 bình dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa nhãn hiệu Olong không nắp có chiều dài 19,5 cm, chỗ rộng nhất 5 cm, gắn một cây bút bi có chiều dài 9cm, đầu lòi ra được quấn giấy bạc; 01 giấy bạc chứa thảo mộc khô, các viên chất rắn máu xám (tiến hành tách các viên chất rắn màu xám vào 01 bịch nylon khóa miết); 01 ống hút màu trắng hàn kín hai đầu chứa ma túy, 01 đoạn mảnh thủy tinh có chiều dài 3,5 cm, chỗ rộng nhất 1cm; 01 đoạn ống hút màu vàng sọc trắng một đầu hàn kín, một đầu hở kích thước (1,7 x 1) cm; 01 quẹt gas, 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen biển số 93G1 – 00688.

Đối với 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen biển số 93G1 – 00688 thu giữ của Hà Quốc H1 tài sản của Mai Thị P (mẹ ruột H1), bà P không biết việc H1 sử xe làm phương tiện chở T đi mua ma túy và sử dụng ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã xử lý vật chứng trả lại cho bà P;

Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKS, ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3, Điều 57, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù

Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 30 đến 36 tháng tù.

Về vật chứng vụ án:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong hoàn lại sau giám định gồm ma túy, 02 đoạn ống hút nhựa, 01 gói ny lông; 01 chai nhựa nhãn hiệu Olong không nắp có chiều dài 19,5 cm, chỗ rộng nhất 5 cm, gắn một cây bút bi có chiều dài 9cm, 01 đầu được quấn giấy bạc; 01 đoạn mảnh thủy tinh có chiều dài 3,5 cm; 01 đoạn ống hút màu vàng sọc trắng một đầu hàn kín; 01 quẹt gas.

Bị cáo không tranh luận và không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 08 giờ ngày 13/10/2023, Hà Quốc H1 điều khiển xe mô tô biển số: 93G1 – 00988 đến nhà Nguyễn Văn T chơi nên T rủ H1 đi đến huyện Lộc Ninh sử dụng ma túy cần sa. H1 chở T đến khu vực chợ Lộc Ninh, H1 đứng đợi bên ngoài, còn T đi bộ vào chợ mua 01 chai nước Olong, 01 cây bút bi và đến khu vực xóm Đảo thuộc khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh gặp một người đàn ông (chưa xác định nhân thân, lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy Heroin rồi ra nói H1 chở đi tìm nơi sử dụng. Khi chạy đến khu vực chòi trong lô cao su thuộc khu phố Ninh Hòa, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, T đi vào chòi ngồi xuống nền xi măng, lấy đoạn ống hút chứa ma túy Heroin dùng quẹt gas đem theo sẵn hơ vào bên hông chai nước, bẻ một đầu cây bút bi cắm vào chai nước để làm bình dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi T sử dụng xong thì sẽ đến lượt H1 sử dụng. Tuy nhiên, T đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Lộc Ninh phối hợp với Công an thị trấn Lộc Ninh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

    Kết luận giám định số: 1121/KL – KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước chất màu xám bên trong 01 gói nylon và đoạn ống hút là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,1602 gam; Thảo mộc khô bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại cần sa, khối lượng 0,8115 gam.

    Hành vi trên của Nguyễn Văn T cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  3. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi sử dụng ma túy là một trong những tệ nạn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân bị cáo. Bị cáo nhận thức việc sử dụng các chất ma túy bị nghiêm cấm và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nhưng bản thân là người nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Trong lúc chuẩn bị sử dụng thì bị bắt quả tang. Tại thời điểm phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
  4. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, do vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành người có ích cho xã hội.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, phạm tội chưa đạt nên Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  6. Về vật chứng vụ án:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong hoàn lại sau giám định gồm ma túy, 02 đoạn ống hút nhựa, 01 gói ny lông; 01 chai nhựa nhãn hiệu Olong không nắp có chiều dài 19,5 cm, chỗ rộng nhất 5 cm, gắn một cây bút bi có chiều dài 9cm, 01 đầu được quấn giấy bạc; 01 đoạn mảnh thủy tinh có chiều dài 3,5 cm; 01 đoạn ống hút màu vàng sọc trắng một đầu hàn kín; 01 quẹt gas,

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0007066 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh).

  7. Đối với Hà Quốc H1 có hành vi điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn T đem ma túy cần sa từ huyện Bù Đốp đến huyện Lộc Ninh, đem ma túy Heroin từ khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh đến khu phố Ninh Hòa, thị trấn Lộc Ninh nhưng H1 không biết T mua ma túy Heroin, số lượng ma túy cần sa không đủ lượng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H1 về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã ra Quyết định xử phạt hành chính nên không xem xét.

    Đối với người bán ma túy cần sa tại xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp và người bán ma túy loại Heroin tại khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh cho Nguyễn Văn T do chưa xác định được tên, tuổi địa chỉ nên chưa làm việc được, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh không có cơ sở xem xét xử lý.

    Đối với Mai Thị P là chủ sở hữu xe mô tô 93G1 – 00688 nhưng bà P không biết Hà Quốc H1 sử dụng xe mô tô để chở Nguyễn Văn T đi mua ma túy và sử dụng ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã xử lý vật chứng trả lại cho bà P.

  8. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như trong bản luận tội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  9. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  3. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
  4. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (T1) 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (T1) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo T phải chấp hành là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

  5. Về vật chứng vụ án:
  6. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 phong bì được niêm phong hoàn lại sau giám định gồm ma túy, 02 đoạn ống hút nhựa, 01 gói ny lông;
    • - 01 chai nhựa nhãn hiệu Olong không có nắp chiều dài 19,5 cm, chỗ rộng nhất 5 cm, gắn một cây bút bi có chiều dài 9cm, 01 đầu được quấn giấy bạc;
    • - 01 đoạn mảnh thủy tinh có chiều dài 3,5 cm;
    • - 01 đoạn ống hút màu vàng sọc trắng một đầu hàn kín;
    • - 01 quẹt gas.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0007066 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh).

  7. Về án phí:
  8. Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND huyện Lộc Ninh
  • - Bị cáo.
  • - Bộ phận HSNV CA Lộc Ninh;
  • - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Lộc Ninh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Kiều Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 03/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN THẾ. ĐIỀU 249, 255 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger