Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày: 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Châu Kim Ba;
  2. Ông Nguyễn Quốc Khanh.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Quới - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/HSST, ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định số 54/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh năm 1985; Quê quán: Tri Tôn, An Giang; nơi cư trú: khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: làm thuê; cha Lê Văn H, sinh năm 1951, mẹ Lý Thị C (chết); chưa có vợ con; A, chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Quá trình nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1965 (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đào Thị M, sinh năm 1970, nơi cư trú: Tổ I khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Văn H, sinh năm 1951, nơi cư trú: khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, tỉnh An Giang.

Người làm chứng: Lê Thị Thanh T1.

Bị cáo, đại diện bị hại và ông H có mặt; người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 18/12/2023, Lê Minh T điều khiển xe mô tô biển số 67N1-305.71 chạy trên Quốc lộ I theo hướng phường T đến lò mổ bò tại phường N làm thuê. Khi đến đoạn đường cua 13 thuộc tổ I, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang, T điều khiển xe với tốc độ nhanh, thiếu chú ý quan sát va chạm với ông Nguyễn Văn N đang đi bộ từ lề trái qua lề phải đường (cùng chiều với xe của T điều khiển) gây tai nạn. Hậu quả, làm ông N tử vong trên đường đưa đi cấp cứu.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 102/KLGĐTT-PC09 ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, ghi nhận: Nguyễn Văn N (sinh năm 1965), ngụ: khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang; nguyên nhân chết: Gãy trật cột sống cổ, chèn ép tuỷ.

Cáo trạng số 59/CT-VKSTB-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận, bản thân hàng ngày điều khiển xe mô tô đi làm ở lò mổ tại phường N, ngày xảy ra tai nạn do bị cáo điều khiển xe với tốc độ nhanh và thiếu quan sát nên va chạm với ông N dẫn đến việc ông N tử vong. Bị cáo biết mình có lỗi, sau khi sự việc xảy ra bị cáo và cha là ông Lê Văn H có đến thăm hỏi và bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại số tiền 65.000.000 đồng. Hiện tại bị cáo vẫn đang đi làm kiếm tiền chăm lo cuộc sống gia đình cũng như tích lũy để trả nợ do gia đình khó khăn phải vay mượn thêm tiền của người quen để bồi thường, khắc phục hậu quả. Bị cáo xin được nhận lại xe để có phương tiện đi làm hàng ngày.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện đi làm nuôi cha và trả nợ.

Đại diện gia đình bị hại, bà Đào Thị M cho biết, gia đình có nhận số tiền 65.000.000 đồng bồi thường, hỗ trợ chi phí mai táng từ bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, đề nghị Tòa án có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do sự việc xảy ra là điều không ai muốn.

Ông Lê Văn H cho biết, sau sự việc xảy ra, ông có vay mượn tiền của người quen để cùng với con bồi thường, hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình bị

hại, hiện tại con ông (bị cáo) vẫn đang đi làm và có đưa tiền cho ông tiêu xài và trả nợ, ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn B giám sát, giáo dục.

Về trách nhiệm dân sự, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, giao trả cho bị cáo xe mô tô biển số 67N1-305.71 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy phép lái xe tên Lê Minh T do không liên quan đến tội phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng,

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân thị xã T; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
  2. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nên không đề cập xem xét.
  3. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa, quá trình điều tra người làm chứng đã có lời khai. Tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến về sự vắng mặt của người làm chứng. Thấy rằng, việc vắng mặt

của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung,

  1. Hành vi phạm tội:
  2. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn được dựng lại, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y tử thi cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 67N1-305.7 chạy trên Quốc lộ I theo hướng phường T đến lò mổ bò tại phường N không chú ý quan sát và chạy nhanh va chạm với ông N đang đi bộ từ lề trái qua phải gây tai nạn, kết quả làm ông N tử vong; vi phạm quy định về điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông được quy định tại điểm a khoản 7 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

    Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

  3. Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  4. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chủ động bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình như đề nghị của Kiểm sát viên.

  5. Xem xét đề nghị của Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo, nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, mới phạm tội lần đầu. Từ khi sự việc xảy ra đến nay, trong thời gian được tại ngoại, bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác; gia đình thuộc thành phần lao động nghèo, bản thân bị cáo hiện đang sống cùng cha là ông Lê Văn H (hiện mất sức lao động) không có người nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội từ hành vi do bị cáo gây ra, nhận thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, tại thời điểm xảy ra vụ việc trong người bị cáo không có nồng độ cồn cũng như không dương tính với ma túy. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên chấp nhận.

  1. Về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm thiệt hại nào khác nên không đề cập xem xét trong vụ án.
  2. Về xử lý vật chứng, xe mô tô biển số 67N1-305.71 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe môtô và giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Minh T, xét giao trả lại cho bị cáo do không liên quan đến tội phạm.
  3. Về án phí, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T: 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án (31/7/2024);

Giao bị cáo Lê Minh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Giao trả cho bị cáo Lê Minh T: 01 (một) xe mô tô biển số 67N1-305.71, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn: đỏ – đen, số máy E3X9E189923, số khung 3240HY072519; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, số 79140006634 tên Lê Minh T; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 014603, biển đăng ký 67N1-305.71.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thị xã Tịnh Biên (1);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger