Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày 31/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Quế.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Võ Đình L, sinh năm 1985 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đình L1 và bà Lê Thị H; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 16/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 18/2021/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 05/7/2023.

Nhân thân:

  • + Ngày 31/5/2007, Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương Quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh (Quyết định số 126/QĐ-UBND ngày 31/5/2007). Chấp hành xong ngày 13/8/2009.
  • + Ngày 02/3/2011, Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương Quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh (Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 02/3/2011). Chấp hành xong ngày 15/3/2013.
  • + Ngày 03/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số

2

12/2017/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 17/6/2018.

  • + Ngày 11/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 28/2018/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 14/01/2020.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Lâm Tấn G, sinh năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn C và bà Nguyễn Thị Kim C1 (chết); bị cáo có 01 người con, sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/10/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù giam về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/02/2016 và đã chấp hành xong nghĩa vụ án phí vào ngày 24/12/2015.

Ngày 16/5/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 14/11/2018.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Võ Hải Đ, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ, ngày 18/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Võ Đình L rủ Lâm Tấn G hùn tiền đi mua ma túy về sử dụng, G đồng ý. L hùn số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) cùng với G mua 300.000 đồng ma túy về để sử dụng. Sau đó, G mượn xe mô tô biển số 38FA-0363 của Phan Thanh H1 (anh rể của G) rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực ngã tư ga Thành phố H mua ma túy với giá 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và cái nỏ thủy tinh với giá 15.000 đồng (mười lăm ngàn đồng). Sau khi mua ma túy xong, G điều khiển xe mô tô quay về, G trả lại xe cho H1, sau đó, G về phòng trọ của G đang thuê tại tổ C, ấp N, xã A, huyện P đưa ma túy cho L đem cất giấu trong toilet của phòng trọ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, GL lấy một phần ma túy ra tổ chức sử dụng, trong lúc GL sử dụng ma túy thì Võ Hải Đ đến phòng trọ của GL chơi, Đ chưa sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã A phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma túy Công an huyện P bắt quả tang và thu giữ trọng lượng ma túy còn lại mà G, L đang tàng trữ để sử dụng, lực lượng Công an đưa G, L, Đ về trụ sở Công an làm việc. Qua làm việc G, L khai nhận hành vi phạm tội của mình.

3

Kết luận giám định số 62/MT-KTHS (MT) ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,2017gam.

Cáo trạng số 41/CT-VKSPG ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Đình LLâm Tấn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Võ Đình L từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 03 (ba) năm 09(chín) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Bị cáo Lâm Tấn G từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 03 (ba) năm 09(chín) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không

Về việc xử lý vật chứng:

  • - Một bì thư được niêm phong ghi số 62/PC09 (là mẫu vật gửi giám đính trong quyết định trưng cầu giám định số 241/QĐ ngày 19/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Lâm Tấn GVõ Đình L, Võ Hải Đ (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (Bên trả mẫu); Trần Hoàng M (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M = 0,2017 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,1687 gam, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) chai nhựa nắp chai có đục một lỗ tròn đã qua sử dụng; 01(một) ống hút bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) cái bật lửa đã qua sử dụng. Đây là công cụ sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Võ Hải Đ. Đây là tài sản cá nhân của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Đ nên không đề cập xử lý.
  • - 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 105 màu đen và 01 (một) điện thoại

4

hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Võ Đình L. Đây là tài sản cá nhân của L, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo nên không đề cập xử lý.

- 01 (một) điện thoại hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Lâm Tấn G. Đây là tài sản cá nhân của G, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo nên không đề cập xử lý.

- Đối với xe mô tô biển số 38FA-0363, G mượn của ông Phan Thanh H1 đi mua ma túy. Sau khi mua ma túy xong G đã trả lại xe cho ông Phan Thanh H1, khi bắt quả tang Cơ quan điều tra không thu giữ xe mô tô trên nên không đề cập xử lý.

Trong phần tranh luận: Bị cáo Võ Đình L, Lâm Tấn G cho rằng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo L, G nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Hải Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Võ Đình L, Lâm Tấn G khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 18/12/2023, tại phòng trọ của Lâm Tấn G, thuộc tổ C, ấp N, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Lâm Tấn GVõ Đình L có hành vi hùn tiền mua ma túy rồi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ trọng lượng

5

ma túy mà bị cáo GL đang tàng trữ còn lại sau khi đã sử dụng là 0,2017 gam, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Lâm Tấn GVõ Đình L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[4] Theo Kết luận giám định số 62/MT-KTHS (MT) ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,2017gam.

Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Đình LLâm Tấn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về nhận thức, các bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, các bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[5] Như vậy, Cáo trạng số 41/CT-VKSPG ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Đình L, Lâm Tấn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án có tính đồng phạm giản đơn. Trong đó các bị cáo Võ Đình LLâm Tấn G có vai trò ngang nhau, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội.

[7] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mà Nhà nước ta đang tiến hành và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Võ Đình L, Lâm Tấn G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được chính sách khoan

6

hồng của Nhà nước mà an tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[8] Xét mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo Võ Đình L, Lâm Tấn G là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về việc xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 62/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong quyết định trưng cầu giám định số 241/QĐ ngày 19/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương) có chữ ký của Lâm Tấn GVõ Đình L, Võ Hải Đ (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (Bên trả mẫu); Trần Hoàng M (Bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma túy, có khối lượng M = 0,2017 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M = 0,1687 gam đây là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 (một) chai nhựa nắp chai có đục một lỗ tròn đã qua sử dụng; 01(một) ống hút bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) cái bật lửa đã qua sử dụng. Đây là công cụ sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu trắng đã qua sử dụng của Võ Hải Đ. Đây là tài sản cá nhân của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Đ nên không đề cập xử lý.
  • - 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 105 màu đen và 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng của Võ Đình L. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo L, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo nên không đề cập xử lý.
  • - 01 (một) điện thoại hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng của Lâm Tấn G. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo G, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo nên không đề cập xử lý.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Đình L, Lâm Tấn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

7

2. Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Đình L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Võ Đình L phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lâm Tấn G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lâm Tấn G phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.

3. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 62/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong quyết định trưng cầu giám định số 241/QĐ ngày 19/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Lâm Tấn GVõ Đình L, Võ Hải Đ (người chứng kiến), Đoàn Nguyễn Thiện Q (bên trả mẫu); Trần Hoàng M (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Kết luận giám định đây là ma tuý, có khối lượng M = 0,2017 gam loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng M=0,1687 gam.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chai nhựa nắp chai có đục một lỗ tròn đã qua sử dụng; 01(một) ống hút bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) cái bật lửa đã qua sử dụng.

(Thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương)

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Võ Đình L, Lâm Tấn G mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

8

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND huyện Phú Giáo; (1)
  • - Công an huyện Phú Giáo; (2)
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Lưu hồ sơ, VP. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Đình L cùng đồng phạm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger