|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 31/7/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Minh Giám
- Bà Kiều Thị Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh ngày 16/7/1996, tại thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973; có chồng là Lê Tiến T, sinh năm 1992 (đã ly hôn); có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- +Anh Phùng Trường G, sinh năm 1990 (vắng mặt).
- Nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- + Chị Trần Thị Kim O, sinh năm 1992 (có mặt).
- Nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị H làm nghề lao động tự do. Khoảng đầu tháng 11/2022, do cần tiền để góp vốn đầu tư trên mạng xã hội và biết anh Phùng Trường G có tiền cho vay lãi nên H gọi điện thoại hỏi vay của anh G số tiền 100.000.000đồng, thỏa thuận thời hạn vay 10 ngày, lãi suất 3.000đồng/01 triệu/01 ngày, nếu trả tiền gốc trước thời hạn thì vẫn tính lãi đủ 10 ngày. Để đảm bảo cho khoản vay, anh G yêu cầu H phải có giấy tờ, tài sản thế chấp. Lúc này, H nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand i10, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 88A - 293.68 mang tên anh Nguyễn Văn Đ (là em ruột của H) để thế chấp vay tiền của anh G. Thực hiện ý định, H tìm trên mạng xã hội Facebook thì thấy có 01 trang Page có người nhận làm giấy tờ giả với giá 2.500.000đồng. H đồng ý và gửi thông tin cho người này qua trang Page để làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68. Khoảng 02 ngày sau, có 01 người giao hàng giao 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 giả cho H. Sau đó, H đã 02 lần sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 giả để vay tiền của anh G, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 07/11/2022, H đến nhà anh G vay số tiền 100.000.000đồng và đưa cho anh G 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 giả để đảm bảo cho khoản vay trên. H nói cho anh G biết Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này là của em trai H, do tin tưởng nên anh G đồng ý cho H vay tiền, lãi suất và thời hạn như đã thỏa thuận từ trước. Để hợp thức việc cho vay lãi cao, anh G yêu cầu H viết 01 Giấy bán xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 cho anh G. Sau đó, anh G giữ Giấy bán xe này cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe rồi chuyển khoản 100.000.000đồng từ số tài khoản 280720131472, Ngân hàng A, chi nhánh huyện T của anh G đến số tài khoản 0361000234937, Ngân hàng V, chi nhánh V1 của H. Sau khi vay được tiền, H chuyển khoản 97.001.784đồng đến số tài khoản 19037528428020, Ngân hàng T2 chi nhánh Đ2 để góp vốn đầu tư trên mạng xã hội. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, H chuyển khoản trả cho anh G 103.000.000đ ồng, gồm 100.000.000đồng tiền gốc và 3.000.000đồng tiền lãi thì anh G hủy bỏ Giấy bán xe H đã viết và trả lại cho H Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68.
Lần thứ hai: Khoảng vài ngày sau, H tiếp tục gọi điện thoại hỏi vay anh G 100.000.000đồng, hẹn trong ngày sẽ trả lại tiền cho anh G, đồng thời H sẽ thế chấp cho anh G giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 để làm tin, anh G đồng ý. Sáng ngày 15/11/2022, H đến nhà anh G để vay tiền nhưng anh G không ở nhà nên H điện thoại cho anh G thì anh G bảo H gặp chị Trần Thị Kim O là vợ của anh G để viết Giấy bán xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 cho anh G và đưa Giấy chứng nhận đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 cho chị O thì anh G sẽ chuyển tiền. Sau đó, H gặp chị O rồi viết Giấy bán xe như đã thỏa thuận với anh G, đồng thời đưa Giấy chứng nhận đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 cho chị O. Lúc này, chị O gọi điện thoại thông báo cho anh G biết đã hoàn tất thủ tục giấy tờ thì anh G chuyển khoản cho H số tiền 100.000.000đồng. Sau khi nhận được tiền vay, H chuyển khoản số tiền 100.001.309đồng đến số tài khoản 1026464820, Ngân hàng V, chi nhánh T3 để góp vốn đầu tư trên mạng xã hội. Tuy nhiên, sau đó do phía bên góp vốn đầu tư thông báo cho H bị lỗi giao dịch không trả lợi nhuận được nên H chưa trả được tiền cho anh G và hẹn sẽ trả cho anh G sau.
Chiều ngày 28/11/2022, H tiếp tục đến nhà anh G hỏi vay anh G 100.000.000đồng. Lúc này, anh G vẫn giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô mà H đã thế chấp nên anh G đồng ý và yêu cầu H viết Giấy biên nhận vay tiền. Sau đó, anh G chuyển khoản số tiền 100.000.000đồng cho H. Sau khi nhận được tiền vay, H chuyển khoản 100.000.611đồng đến số tài khoản 2015678966666, Ngân hàng M, chi nhánh T3 để góp vốn đầu tư trên mạng xã hội. Lúc này, H tiếp tục hỏi vay anh G thêm 80.000.000đồng nhưng do tổng số tiền H vay đã lớn nên anh G yêu cầu H làm Hợp đồng mua bán xe và giao xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 cho anh G để đảm bảo cho khoản vay, H đồng ý. H và anh G làm Hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 28/11/2022, với nội dung H bán xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 cho anh G với số tiền 180.000.000đồng, trong đó gồm 100.000.000đồng H đã vay ngày 15/11/2022 và 80.000.000đồng H vay thêm ngày 28/11/2022. Sau đó, anh G giữ Hợp đồng mua bán xe ô tô và hủy bỏ Giấy bán xe đề ngày 15/11/2022, đồng thời anh G thỏa thuận khi nào H giao xe ô tô thì anh G mới cho H vay thêm 80.000.000đồng. Sáng ngày 29/11/2022, H cùng anh G đi về đến gần cổng nhà H thì H bảo anh G đứng ngoài đợi để H vào mượn xe ô tô giao cho anh G. Sau đó, H đi vào nhà thì gặp ông Nguyễn Văn C là bố đẻ của H, H hỏi mượn xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 nhưng ông C không đồng ý. Do không giao được xe nên H không ra gặp anh G mà đi hỏi vay tiền của mọi người trả cho anh G nhưng không vay được tiền. Thấy H không giao xe ô tô như đã hẹn, anh G gọi điện thoại cho H thì H nói để H vay tiền trả cho anh G sau. Thời gian sau đó, H xuống thành phố Hà Nội tìm việc làm, anh G nhiều lần gọi điện thoại và nhắn tin cho H yêu cầu H trả tiền thì H xin anh G cho trả tiền dần theo từng tháng nhưng anh G không đồng ý. Anh G yêu cầu H phải trả ngay tiền gốc vay 200.000.000đồng cho anh G, còn tiền lãi anh G không tính. Tuy nhiên, sau đó H vẫn không trả tiền cho anh G nên ngày 28/7/2023, anh G đã làm đơn trình báo Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đồng thời giao nộp cho cơ quan điều tra một số đồ vật, tài liệu để phục vụ công tác điều tra, gồm: 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô biển kiểm soát 88A – 293.68 đề ngày 28/11/2022 có nội dung bên bán là Nguyễn Thị H và bên mua là anh Phùng Trường G; 02 Giấy biên nhận tiền mặt đề ngày 28/11/2022 có nội dung bên giao là Phùng Trường G và bên nhận là Nguyễn Thị H với số tiền 100.000.000đồng và 180.000.000đồng; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68.
Sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã triệu tập, xác minh nhưng H không có mặt tại gia đình và địa phương. Đến ngày 14/01/2024, cơ quan điều tra đã triệu tập được H đến trụ sở làm việc đồng thời tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số điện thoại 0972.116.xxx để phục vụ công tác điều tra.
Tại Kết luận giám định số 2402/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A – 293.68 do anh Phùng Trường G giao nộp, xác định:
- Các lớp in trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với các lớp in tương ứng trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một phương pháp in ra.
- Chữ ký đứng tên Giám đốc Bạch Thảo N trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên Giám đốc Bạch Thảo N trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH VĨNH PHÚC ★ TRUNG TÂM ĐĂNG KIỂM XE CƠ GIỚI” và hình dấu tên, chức danh có nội dung: “GIÁM ĐỐC Bạch Thảo N” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) được tạo thành bằng phương pháp in phun màu, con dấu đóng ra các hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không đóng ra các hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A.”
Tại Kết luận giám định số 2879/KL-KTHS ngày 21/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A – 293.68 do anh Phùng Trường G giao nộp, xác định:
- Các lớp in trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với các lớp in tương ứng trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một phương pháp in in ra;
- Chữ ký đứng tên Thượng tá Hoàng Phúc H2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A, so với chữ ký đứng tên Thượng tá Hoàng Phúc H2 trên mẫu cần so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký ra.”
Tại Kết luận giám định số 2638/KL-KTHS ngày 25/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận đối với 02 Giấy biên nhận tiền đề ngày 28/11/2022 và 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô biển kiểm soát 88A – 293.68 đề ngày 28/11/2022 do anh Phùng Trường G giao nộp, xác định: “Chữ ký, chữ viết trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 (Trừ chữ ký, chữ viết mang tên Phùng Trường G dưới mục: “BÊN GIAO TIỀN” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, dưới mục “BÊN B” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị H trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký và viết ra.”
Tại Kết luận giám định số 1659/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định Kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của Nguyễn Thị H, xác định: “Không xác định được những ứng dụng đã bị xóa khỏi mẫu vật. Trích xuất được 66 tin nhắn ứng dụng Messenger giữa tài khoản đang đăng nhập trên ứng dụng với các nhóm, toàn bộ tin nhắn được in thành phụ lục. Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục giám định có chữ ký của giám định viên.” Qua nghiên cứu nội dung Kết luận giám định số 1659 thể hiện sau khi không hỏi vay được tiền để trả anh G, H đã nhắn tin xin trả nợ dần cho anh G nhưng anh G không đồng ý.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin và sao kê giao dịch số tài khoản 0361000234937, Ngân hàng V, chi nhánh V1 của Nguyễn Thị H và số tài khoản 280720131472, Ngân hàng A, chi nhánh huyện T của anh Phùng Trường G, thể hiện việc chuyển khoản giữa H và anh G phù hợp với nội dung sự việc đã nêu trên.
Quá trình điều tra, H khai toàn bộ số tiền vay được của anh G, H đều sử dụng để góp vốn đầu tư qua 01 trang Page trên mạng xã hội Facebook (H không nhớ tên trang Page này) bằng hình thức chuyển khoản đến các số tài khoản mà trang Page cung cấp để hưởng lợi nhuận. Khi nhận được lợi nhuận, H sẽ trả lại tiền cho anh G và ăn chênh lệch số tiền đã vay của anh G với số tiền trang page trả cho H. Quá trình tra cứu tài khoản của H thể hiện chỉ có một vài lần H nhận được lợi nhuận từ trang Page này, còn những lần sau đó H khai nhận phía bên góp vốn đầu tư báo lỗi giao dịch không chuyển lại tiền cho H nên H chưa có tiền trả cho anh G. Sau đó, giữa H và anh G vẫn liên lạc với nhau để thỏa thuận việc trả nợ, thể hiện ý chí của H không có ý thức chiếm đoạt tiền của anh G. Việc H làm giả Giấy chứng nhận đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 chỉ nhằm mục đích vay được tiền của anh G nhưng không có mục đích chiếm đoạt số tiền này.
Đối với anh Phùng Trường G, ngày 07/11/2022, anh G cho H vay 100.000.000đồng, thời hạn vay 10 ngày, lãi suất 3.000đồng/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, H đã trả cho anh G cả tiền gốc vay và tiền lãi là 103.000.000đồng. Như vậy, lãi suất của khoản vay này tương ứng với 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Hành vi của anh G có dấu hiệu của tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, số tiền anh G thu lời bất chính dưới 30.000.000đồng. Bản thân anh G chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên hành vi của anh G không cấu thành tội phạm này. Đến ngày 15/01/2024, cơ quan điều tra mới điều tra làm rõ việc này của anh G, tuy nhiên đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này của anh G, do vậy cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xem xét, giải quyết biện pháp khắc phục hậu quả đối với số lợi bất hợp pháp theo quy định.
Đối với người làm giả Giấy chứng nhận đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 và người giao hàng cho Nguyễn Thị H, quá trình điều tra H khai nhận do thời gian đã lâu nên H không nhớ tên trang Page Facebook mà H đặt làm giả Giấy chứng nhận đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68. H không biết tên, tuổi, địa chỉ người làm giả Giấy chứng nhận đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68. H không nhớ số điện thoại và đặc điểm nhận dạng, đặc điểm phương tiện của người giao hàng. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với anh Nguyễn Văn Đ (là em ruột của Nguyễn Thị H), quá trình điều tra xác định việc H đặt làm giả Giấy chứng nhận đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 mang tên Nguyễn Văn Đ để mang đi thế chấp vay tiền, anh Đ không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Do vậy, cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh các số tài khoản mà H khai sau khi vay tiền của anh G, H chuyển tiền đến để góp vốn đầu tư trên mạng xã hội, kết quả xác định chủ số tài khoản 19037528428020, Ngân hàng T2, chi nhánh Đ2 là bà Phan Thị C1, sinh năm 1982, trú tại khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Kết quả xác định số tài khoản Ngân hàng V, chi nhánh T3 là anh Vũ Hải H, sinh năm 2003, trú tại tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; chủ số tài khoản 2015678966666, Ngân hàng M, chi nhánh T3 là anh Lương Khánh T1, sinh năm 2001, trú tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai bà C1, anh Đ1, anh T1 và những người này đều khai không sử dụng các số tài khoản trên và bản thân cũng không có mối quan hệ quen biết gì với Nguyễn Thị H. Do vậy, cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ.
Tại Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 10/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt H từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/01/2024; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị lưu trong hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô để thế chấp vay tiền đầu tư làm ăn, Bản nhận H cũng đã trả đủ tiền cho anh G khi vay tiền anh G lần 1 và khất nợ ngày 28/11/2022 của Giấy biên nhận tiền mặt đề ngày 28/11/2022; đề nghị bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số điện thoại 0972.116.xxx; về trách nhiệm dân sự: Buộc H phải trả lại cho anh G số tiền 200.000.000đồng.
Bị cáo Nguyễn Thị H không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:
Nguyễn Thị H làm nghề lao động tự do, để có tiền góp vốn đầu tư, H đã đặt trên mạng xã hội Facebook làm giả 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Grand i10, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 88A - 293.68 mang tên Nguyễn Văn Đ (là em ruột của H) với mục đích sử dụng để thế chấp vay tiền. Sau đó, Nguyễn Thị H đã 02 lần sử dụng các giấy tờ giả này để thế chấp vay tiền của anh Phùng Trường G, cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 07/11/2022, tại nhà anh G ở tổ dân phố S, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị H sử dụng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 giả để thế chấp vay của anh G 100.000.000đồng. Do tin tưởng là Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật nên anh G đồng ý cho H vay tiền. Hai bên thỏa thuận lãi suất vay là 3.000đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay là 10 ngày. Cùng ngày, H đã trả cho anh G 103.000.000đồng, bao gồm tiền gốc và tiền lãi vay. Sau đó, anh G đã trả lại cho H Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên.
Lần thứ hai: Ngày 15/11/2022, Nguyễn Thị H tiếp tục đến nhà anh G rồi sử dụng 01 Giấy chứng nhận đăng ký giả và 01 Giấy chứng nhận kiểm định giả xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 để thế chấp vay của anh G 100.000.000đồng, hai bên không thỏa thuận gì về lãi suất vay. Đến nay, H chưa trả tiền cho anh G khoản vay này.
Ngoài ra, ngày 28/11/2022, Nguyễn Thị H còn vay của anh G 100.000.000đồng. Hai bên không thỏa thuận gì về lãi suất vay. Tuy nhiên, lần vay tiền này, H chỉ viết giấy biên nhận vay tiền cho anh G mà không sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký giả và Giấy chứng nhận kiểm định giả để thế chấp vay tiền. Đến nay, H chưa trả cho anh G khoản vay này.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm vào tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 341 quy định:
“1. Người nào ... sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) ...
b) Phạm tội 02 lần trở lên”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người không có tiền án, tiền sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Mục đích của Nguyễn Thị H thuê làm giả 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô để thế chấp vay tiền đầu tư làm ăn, Bản thân H cũng đã trả đủ tiền cho anh G khi vay tiền anh G lần 1 và khất nợ khi chưa có tiền trả đối với lần 2, lần 3. H có hành vi gian dối nhưng không có mục đích chiếm đoạt tài sản của anh G. Do đó, xác định việc vay nợ trên giữa H với anh G là quan hệ dân sự, không cấu thành các tội về chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan điều tra đã khởi tố H về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phùng Trường G yêu cầu Nguyễn Thị H phải trả lại cho anh số tiền 200.000.000đồng là tiền gốc anh G đã cho H vay ngày 15/11/2022 và ngày 28/11/2022; tại phiên tòa, chị Trần Thị Kim O là vợ anh G yêu cầu H phải trả lại cho anh G số tiền này, H đồng ý nhưng đến nay H chưa trả lại cho anh G số tiền này. Do vậy, cần buộc H phải trả lại cho anh G số tiền 200.000.000đồng là phù hợp.
[7]. Về vật chứng: Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 giả; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô con biển kiểm soát 88A - 293.68 giả; 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 28/11/2022 và 02 Giấy biên nhận tiền mặt đề ngày 28/11/2022 do anh Phùng Trường G giao nộp là vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã đóng bút lục chuyển theo hồ sơ vụ án cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số điện thoại 0972.116.xxx tạm giữ của Nguyễn Thị H, quá trình điều tra xác định H sử dụng để trao đổi, đặt làm giấy tờ giả qua mạng xã hội, cần tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 15/01/2024).
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 463, Điều 466, Điều 470, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả cho anh Phùng Trường G 200.000.000đồng (hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Lưu trong hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 giả; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88A - 293.68 giả; 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 28/11/2022 và 02 Giấy biên nhận tiền mặt đề ngày 28/11/2022 do anh Phùng Trường G giao nộp.
Tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số điện thoại 0972.116.xxx tạm giữ của Nguyễn Thị H.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000đồng (mười triệu đồng) án phí dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H phạm tội Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
