Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 50/2024/HS-ST

Ngày 31 - 05 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhung và bà Nguyễn Thị Kim Luyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại Nhà văn hóa tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/HSST ngày 12 tháng 04 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Bàn Văn M (Tên gọi khác: Bàn Tòn M1), sinh ngày 22 tháng 05 năm 1992 tại xã X, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; cư trú tại: Thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao (đỏ); tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 02/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Bàn Hữu S (đã chết) và bà Hoàng Thị L; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

- Ngày 03 tháng 02 năm 2010, Bàn Văn M bị Công an xã X, huyện N (nay là huyện L), tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, (Đã được xóa).

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2010/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2010 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 12 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” và 02 năm 06 sáu tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp chung cho cả hai tội là 14 năm 06 tháng tù.

- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 602/2010/HSPT ngày 25 tháng 11 năm 2010 bị cáo bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 10 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” và 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp chung cho cả hai tội là 11 năm 06 tháng tù, (Đã được xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 01 năm 2024 đến nay, “có mặt”.

Người làm chứng: Anh Lâm Lan A, sinh năm 1976; cư trú tại: Phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2024, Bàn Văn M đang đi lang thang tại khu vực Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy Heroin. Tại đây, M gặp và mua được của 01 người đàn ông lạ mặt, dáng vẻ giống người nghiện (M không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch của người này) 01 túi ma túy Heroin với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi M đang đi bộ ven đường T thuộc khu vực Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị tổ công tác Công an phường X, thành phố P kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, vật chứng:

- T tại túi quần phía trước bên phải đang mặc của Bàn Văn M 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ bên trong có chứa các chất cục bột màu trắng, tang vật này được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1. M khai nhận là ma túy để sử dụng cá nhân.

- Thu giữ 70ml mẫu nước tiểu của M để giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,1666g (Không phảy một sáu sáu sáu gam, không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine”. Cơ quan giám định đã hoàn lại A1 = 0,1271 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Tại kết luận giám định số 88/KLGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh V đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Bàn Văn M, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Bàn Văn M, SN 1992, HKTT: xã X, huyện L, tỉnh Tuyên Quang gửi đến giám định”. Morphine là chất ma túy nằm ở danh mục IIA, STT 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại 0,00ml mẫu cùng bao gói được niêm phong theo quy định.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho M, Cơ quan điều tra đã tổ chức xác minh nhưng không làm rõ được nhân thân, lai lịch.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSPY ngày 11 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Bàn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bàn Văn M về tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo M từ 01 năm 07 tháng đến 01 năm 08 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01 tháng 01 năm 2024 tại khu vực thuộc tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, Bàn Văn M có hành vi cất giấu tại túi quần bên phải phía trước 01 túi ma túy (Heroin) có khối lượng 0,1666 gam với mục đích sử dụng cá nhân thì bị Công an thành phố P bắt quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng Heroine của Phòng K - Công an tỉnh V,...Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố bị cáo Bàn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo bản thân đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị kết án về các tội “Hiếp dâm trẻ em” và “Cướp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng rèn luyện, ngang nhiên mua ma túy (Heroine) với mục đích sử dụng cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Đặc biệt hiện nay tệ nạn ma túy trong cả nước nói chung cũng như ở địa bàn thành phố P diễn biến ngày càng phức tạp gây nhiều hậu quả xấu, tác động trực tiếp vào từng cá nhân, từng gia đình và toàn xã hội. Tệ nạn ma túy kéo theo một loạt các tội phạm như: Trộm cắp, giết người, chiếm đoạt tài sản...và rất nhiều các loại bệnh tật nguy hiểm, trong đó có căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Bàn Văn M trước khi phạm tội là người có nhân thân rất xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với người đàn ông M khai đã bán ma túy cho M, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Bàn Văn M làm nghề tự do không có thu nhập, tài sản do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1271 gam mẫu ma túy và toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn M 01 (Một) năm 08 (T1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 01 tháng 01 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 0,1271 gam mẫu ma túy; toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định.

Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 79 lập ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bàn Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND T.Vĩnh Phúc;
  • - Viện KSND TP.Phúc Yên;
  • - CQĐT - Công an TP.Phúc Yên;
  • - Trại TG – CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - THADS TP.Phúc Yên;
  • - Sở Tư pháp T.Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo Bàn Văn Man;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Anh Vũ

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bàn Văn Man tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger