|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HS-ST
Ngày 29- 7- 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Văn Tâm.
Thẩm phán: ông Hồ Văn Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Trọng;
- Ông Nguyễn Văn Hẩn;
- Ông Lê Thanh Tâm.
- Thư ký phiên toà: ông Lâm Thành Đạt - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Anh Điền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng D, (tên gọi khác: không có); giới tính: Nam, sinh ngày 16/02/1985. Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố P, thị trấn P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Nghề nghiệp: lái xe, trình độ học vấn: 12/12. Con ông Nguyễn Văn N (là bị can trong vụ án) và bà Nguyễn Thị N1 (là bị can trong vụ án). Có vợ tên Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không có. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2023 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo D: Luật sư Hồ Phát H1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T được chỉ định là người bào chữa cho bị cáo; có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị N1 (tên gọi khác: không có); giới tính: Nữ, sinh năm 1963. Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Nghề nghiệp: làm mướn. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị P (đã chết). Có chồng tên Nguyễn Văn N (là bị can trong vụ án) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1985. Tiền án, tiền sự: không có. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2023 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo N1: Luật sư Trần Thanh H2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T được chỉ định là người bào chữa cho bị cáo; có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn N (tên gọi khác: không có); giới tính: N2, sinh năm 1956. Nơi sinh: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không có. Nghề nghiệp khi phạm tội: làm mướn. Trình độ học vấn: không biết chữ. Con ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) và bà Bùi Thị L (đã chết). Có vợ tên Nguyễn Thị N1 (là bị can trong vụ án) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1985. Tiền án: không có. Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24, ngày 01/11/2022 của Công an xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu. Nộp phạt ngày 08/11/2022. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2023 đến ngày 29/5/2024, được áp dụng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: bà Võ Thị C (tên gọi khác: H4), sinh năm 1983, địa chỉ: Số A, ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng D là con ruột của Nguyễn Thị N1 và Nguyễn Văn N. D có mối quan hệ tình cảm với bà Võ Thị C, ngụ ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Lợi dụng mối quan hệ tình cảm và sự tin tưởng của bà C, D nhiều lần bàn bạc, thống nhất với N1: Nhanh liên lạc với bà C, nói dối D bị Công an bắt do vi phạm pháp luật, nói bà C kiếm tiền đưa cho N1 để lo cho D, nếu không D sẽ bị đánh; mục đích chiếm đoạt tiền của bà C, giao cho D sử dụng. Khi nghe N1 nói D bị bắt, bà C điện thoại cho D nhưng không được nên nghĩ D bị Công an bắt giữ nên đồng ý giao tiền cho N1.
Với thủ đoạn như trên, từ ngày 15/12/2022 đến ngày 15/5/2023, tại Tây Ninh, D và N1 09 lần chiếm đoạt 645.000.000 đồng của bà C thông qua chuyển khoản. Đến cuối tháng 5/2023, D tiếp tục nói N1 điện thoại cho bà C nói là D bị Công an bắt giữ, cho N1 mượn 120.000.000 đồng để lo cho D được về nhà. Ngày 20/5/2023, bà C điện thoại cho N1 nói đã có số tiền 120.000.000 đồng. N1 nói Nghe điều khiển xe mô tô biển số 70P2-8260 chở N1 đi gặp bà C lấy tiền về lo cho D vì bị Công an bắt. Lúc này, N biết rõ D không bị Công an bắt vì D đang sinh sống cùng N và N1. Nghe điều khiển xe mô tô chở N1 đến khu vực thị trấn huyện G, tỉnh Tây Ninh thì gặp bà C đi cùng gia đình trên xe ô tô, N yêu cầu bà C giao tiền cho N, N1. Do bà C muốn biết nhà của N, N1, D nên yêu cầu Nghe, N1 dẫn đến nhà rồi giao tiền. Khoảng 23 giờ ngày 20/5/2023, khi di chuyển đến khu vực xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh, Nghe nói bà C giao tiền. Do chưa đến nhà N, N1 nên bà C không đồng ý giao tiền và cùng gia đình đến khu vực thành phố T để nghỉ. Sáng ngày 21/5/2023, N1 tiếp tục điện thoại yêu cầu bà C giao tiền. Lúc này, bà C nghi ngờ bị lừa đảo nên trình báo Công an xã P, huyện C giải quyết, đồng thời vẫn đồng ý giao tiền cho N1. Đến 18 giờ ngày 21/5/2023, tại quán C2, thuộc ấp P, xã P, huyện C, Cơ quan CSĐT Công an huyện C bắt quả tang N1 và N nhận số tiền 120.000.000 đồng từ chị Nguyễn Thị N3, ngụ ấp P, xã P huyện C, tỉnh Tây Ninh, là người do chị C đưa tiền để giao cho N1, Nghe.
Ngoài ra, D còn 03 lần sử dụng 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả (gọi tắt là GCNQSDĐ) đem cầm cố, chiếm đoạt tiền của bà C, trong đó N1 giúp sức 01 lần, cụ thể:
- Ngày 19/9/2022, D đem “GCNQSDĐ giả số DA 080562, mang tên Nguyễn Hoàng D, diện tích 1910 m², thửa đất số 91, tờ bản đồ số 45, tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh” đến quán nước tại khu vực ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, cầm cố cho bà C với số tiền 170.000.000 đồng. Bà C nghĩ GCNQSDĐ là thật nên đồng ý giao cho D 170.000.000 đồng, yêu cầu D ký hợp đồng cầm cố, bà C nhờ bà Nguyễn Thị N4, là bạn của bà C, ký tên bên nhận cầm cố.
- Khoảng hai tháng sau, D tiếp tục đem GCNQSDĐ giả số CN 978395, mang tên Nguyễn Văn N, diện tích 6480 m², thửa đất số 41, tờ bản đồ số 20, tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh” đến quán nước thuộc khu vực huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh gặp bà C cầm cố số tiền 220.000.000 đồng. D ký tên vào hợp đồng cầm cố và nhận tiền 220.000.000 đồng.
- Sau khi biết D đã sử dụng GCNQSDĐ giả số CN 978395, mang tên Nguyễn Văn N cầm cố cho bà C, N1 thống nhất với D là N1 điện thoại cho bà C nói dối D bị Công an bắt, vì cần tiền lo cho D nên tiếp tục cầm cố GCNQSDĐ giả số CN 978395 cho bà C, vay thêm 150.000.000 đồng, bà C đồng ý. Ngày 07/3/2023, N1 nhờ Nghe cùng đi xe khách đến huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, N1 nói để nhận tiền đã mượn của bà C, không nói rõ với Nghe việc N1 và D sử dụng GCNQSDĐ giả số CN 978395 cầm cố để chiếm đoạt tiền của bà C. Khi gặp nhau tại quán nước khu vực bến xe A, thuộc xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bà C giao cho N1 150.000.000 đồng và hợp đồng cầm cố số tiền 370.000.000 đồng, trong đó bao gồm số tiền 220.000.000 đồng đã nhận trước, bên cầm cố là Nguyễn Văn N, bên nhận cầm cố là Nguyễn Thị N4. Nhanh đưa hợp đồng cầm cố và yêu cầu Nghe ký tên. Nghe không biết chữ, không biết nội dung trong hợp đồng nhưng vẫn đồng ý ký tên.
Về nguồn gốc 02 GCNQSDĐ giả số DA 080562, mang tên Nguyễn Hoàng D và số CN 978395, mang tên Nguyễn Văn N: Khoảng năm 2020, do muốn thể hiện với dòng họ về gia đình Nhanh có sở hữu quyền sử dụng đất, thông qua người nam hành nghề giao hàng (không rõ họ tên, địa chỉ) N1 đặt làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với số tiền 4.000.000 đồng. Đến tháng 9/2022, D biết là giấy giả và sử dụng cầm cố vay tiền của bà C.- Kết luận giám định số 861/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T xác định:
- 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho ông Nguyễn Hoàng D, năm sinh 1985, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh số DA 080562, Số vào sổ cấp GCN: CS06123, ngày 07 tháng 12 năm 2020 là giả.
- 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho ông Nguyễn Văn N, năm sinh 1956, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh số CN 978395; Số vào sổ cấp GCN: CS06123, cấp ngày 19 tháng 8 năm 2018 là giả.
* Cáo trạng số 19/CT-VKSTN-P3 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo:
- Nguyễn Hoàng D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
- Nguyễn Thị N1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
- Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa,
- Bị cáo D trình bày: thừa nhận các lần bà C chuyển tiền 645.000.000 đồng cho bị cáo là do bị cáo nhờ bị cáo N1 dùng lời như lời lẽ gian dối để chiếm đoạt. Ngoài ra, bị cáo sử dụng 02 GCNQSDĐ giả để cầm cố cho bà C vay số tiền 540.000.000 đồng, lần cuối nhờ bà N1 và ông N nhận 120.000.000 đồng thì bị bắt quả tang.
- Bị cáo N1 trình bày: lợi dụng mối quan hệ tình cảm giữa D với bà C, nên mỗi lần bị cáo D cần tiền tiêu xài D bàn bạc với bà điện thoại nói dối bà C là D bị bắt hoặc bị bệnh cần tiền lo lót và trị bệnh để C chuyển tiền cho bà, tổng số tiền bà và D chiếm đoạt của bà C bao nhiêu bà không nhớ, khi bà C đồng ý chuyển tiền thì bà xin số tài khoản của dịch vụ chuyển và nhận tiền bên ngoài cụ thể tài khoản của chị Trần Thị Bích T1, Lương Kim B, Lý Thị Hồng T2, Nguyễn Văn C1 ...sau đó bà rút tiền bà C chuyển đưa cho D toàn bộ, D cho bà một ít tiền xài. Lần cuối bị cáo bà và bị cáo N nhận 120.000.000 đồng thì bị bắt quả tang.
- Bị cáo N trình bày: ngày đi nhận 150.000.000 đồng từ bà C, bị cáo chỉ làm theo yêu cầu của bị cáo N1, bị cáo không biết chữ nên không biết hợp đồng ghi nội dung gì, bị cáo không biết việc bị cáo D và bị cáo N1 bàn bạc nhau chuyện gì. Lần cuối trước khi đi nhận 120.000.000 đồng thì bị cáo N1 có nói cho bị cáo biết là nói dối bà C là D bị bệnh nặng nên khi gặp bà C bị cáo có giục bà C giao tiền nhanh để cứu D.
- Bị hại trình bày: xác nhận lời trình bày của các bị cáo là đúng, tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt của bà là 1.305.000.000 đồng. Số tiền 120.000.000 đồng bà đã nhận lại và trong thời gian chuẩn bị xét xử chị N5 (con bị cáo N1) có trả cho bà được 50.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả cho các bị cáo và bị cáo đồng ý nhận.
* Phần tranh luận:
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội: giữ nguyên nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D từ 15 năm đến 17 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt theo quy định.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54, 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 từ 10 năm đến 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt theo quy định.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo không có tài sản.
- Về bồi thường thiệt hại: căn cứ các điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 589 của Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Hoàng D phải bồi thường cho bị hại Võ Thị C dố tiền 1.305.000.000 đồng; ghi nhận bị hại đã nhận lại 120.000.000 đồng và gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng.
- Về vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước một xe mô tô biển số 70P2-8260 của bị cáo N, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen của bị cáo Nguyễn Thị N1 (đã qua sử dụng, không kiểm tra máy), 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 867251055943204 của Nguyễn Hoàng D (đã qua sử dụng, không kiểm tra máy) và 01 xe mô tô biển số 70P2-8260 là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
- Lưu giữ file ghi âm tên bản ghi mới 20.m4a dung lượng 1,02MB; 01 file ghi âm tên bản ghi mới 21.m4a dung lượng 4,11MB; 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số DA 080562 mang tên Nguyễn Hoàng D và số CN 978395 mang tên Nguyễn Văn N.
- Luật sư H1 bào chữa cho bị cáo D trình bày: thống nhất với tội danh truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo D. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự; áp dụng mức án cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
- Bị cáo Nguyễn Hoàng D không tranh luận.
- Luật sư H2 bào chữa cho bị cáo N1 trình bày:
+Thống nhất với tội danh truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo N1, do bị cáo thương con nên mới giúp sức cho D phạm tội, vai trò không đáng kể, khả năng nhận thức hạn chế, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự; áp dụng mức án cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
- Bị cáo N1 không tranh luận.
- Bị cáo N không tranh luận.
* Lời nói sau cùng: các bị cáo D, N1, Nghe trình bày: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: qua đơn tố cáo của các bị hại Võ Thị C đối với Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Văn N có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã xử lý tin báo khởi tố vụ án, tiến hành điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo người bào chữa cho các bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Qua xem xét hồ sơ nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: tại phiên toà, các bị cáo D, N1, N khai nhận: lợi dụng mối quan hệ tình cảm với bà Võ Thị C nên trong năm 2022, 2023 bị cáo D, N1 đã bàn bạc với nhau dùng lời lẽ và thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bà C. D nhiều lần nhờ bà N1 (mẹ ruột của D) điện thoại nói với bà C là “bị cáo D bị Công an bắt do ghi số đề hoặc bị bệnh nặng nằm viện cần tiền lo để tại ngoại, điều trị bệnh” do tin tưởng D và N1, bà C đã chuyển vào tài khoản của D cụ thể là như sau:
- Ngày 15/12/2022, bà C đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng vào Tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng D (Bút lụt 224, 165).
- Ngày 20/3/2023, thông qua Tài khoản số [...] của Nguyễn Tấn D1, bà C đã chuyển số tiền 45.000.000 đồng cho bị cáo N1 nhận qua Tài khoản số 292018 (dịch vụ chuyển tiền trung gian) của bà Lý Thị Hồng T2 (Bút lụt 164), bị cáo N1 đã rút số tiền này và giao cho bị cáo D1.
- Ngày 22/4/2023, thông qua Chi nhánh Ngân hàng N6, bà C đã chuyển số tiền 100.000.000 đồng cho bị cáo N1 qua Tài khoản số 66090990999999 (dịch vụ chuyển tiền trung gian) của ông Nguyễn Văn C1 (Bút lụt 221), bị cáo N1 đã rút số tiền này và giao cho bị cáo D1.
- Ngày 26/4/2023, thông qua Chi nhánh Ngân hàng N6, bà C đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho bị cáo N1 qua Tài khoản số 66090990999999 (dịch vụ chuyển tiền trung gian) của ông Nguyễn Văn C1 (Bút lụt 220), bị cáo N1 đã rút số tiền này và giao cho bị cáo D1.
- Ngày 30/4/2023, thông qua Tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng Lệ H5, bà C đã chuyển số tiền 40.000.000 đồng cho bị cáo N1 qua Tài khoản số [...] (dịch vụ chuyển tiền trung gian) của ông Lương Kim B (Bút lụt 219, 202), bị cáo N1 đã rút số tiền này và giao cho bị cáo D1.
- Ngày 07/5/2023, thông qua Tài khoản số 3338666886868 của Nguyễn Thị Thu H6, bà C đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào Tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng D (Bút lụt 104).
- Ngày 07/5/2023, thông qua Tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng Lệ H5, bà C đã chuyển số tiền 40.000.000 đồng vào Tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng D (Bút lụt 218 và 224).
- Ngày 08/5/2023, thông qua Tài khoản số [...] của Nguyễn Tấn D1, bà C đã chuyển số tiền 80.000.000 đồng cho bị cáo vào Tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng D (Bút lụt 102 và 230).
- Ngày 15/5/2023, thông qua Tài khoản số [...] của Nguyễn Hoàng Lệ H5, bà C đã chuyển số tiền 40.000.000 đồng thông qua Tài khoản số [...] của Trần Thị Bích T1 cho bị cáo N1 (Bút lụt 103), bị cáo N1 đã rút số tiền này và chia nhau với D.
- Ngày 20/5/2023, bà C giao tiền mặt 120.000.000 đồng bị cáo N1, bị cáo N nhận thì bị bắt quả tang.
Tổng cộng 09 lần chuyển tiền và đưa tiền mặt là 765.000.000 đồng (1).
- Ngoài ra, ngày 19/9/2022, 19/11/2022 và ngày 07/3/2023 tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo D và bị cáo N1 còn sử dụng 02 GCNQSDĐ giả (01 giấy đứng tên Nguyễn Hoàng D, giấy còn lại đứng tên Nguyễn Văn N) cầm cố cho bà C 03 lần với số tiền chiếm đoạt tiền là 540.000.000 đồng (2), trong đó bị cáo N1 giúp sức cho D 01 lần chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng trong tổng số tiền 540.000.000 đồng, thể hiện tại hợp đồng cầm cố bà C nhờ bà Nguyễn Thị N4 đứng tên nhưng tiền là do bà C đưa ra (có xác nhận của bà N4).
Như vậy, tổng số tiền (1) + (2) các bị cáo đã chiếm đoạt của bà C là 1.305.000.000 đồng, trong đó bà N1 giúp sức chiếm đoạt số tiền 765.000.000 đồng, bị cáo N giúp sức cho D chiếm đoạt số tiền 120.000.000 đồng.
[3] Xét vai trò của từng bị cáo thấy:
- Đối với bị cáo D, là người chủ mưu, vạch kế hoạch nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò chính. Với tài sản chiếm đoạt có giá trị 500.000.000 đồng trở lên và sử dụng GCNQSDĐ giả, thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên bị cáo bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
- Đối với bị cáo N1, là người đồng phạm tích cực, bị cáo đã thực hiện kế hoạch do bị cáo D dựng lên, đã giúp sức để bị cáo D chiếm đoạt số tiền 765.000.000 đồng của bị hại, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò sau bị cáo D. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 500.000.000 đồng trở lên và sử dụng GCNQSDĐ giả thực hiện hành vi phạm tội (chiếm đoạt thêm số tiền 150.000.000 đồng) nên bị cáo bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
- Đối với bị cáo N, khi bị cáo D và bị cáo N1 bàn bạc với nhau về cách thức lừa đảo bà C bị cáo không nghe, không biết việc bị cáo D, N1 tổ chức lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà C, cũng không biết việc bị cáo N1 làm giấy tờ giả và sử dụng giấy tờ giả để phạm tội, bị cáo không biết chữ, khi bị cáo cùng bị cáo N1 đến H nhận số tiền 150.000.000 đồng (do bị cáo D và N1 lừa đảo) từ bà C, bà C yêu cầu bị cáo ký vào hợp đồng cầm cố thì bị cáo ký mà không xem nội dung, bị cáo có hỏi bị cáo N1 thì bị cáo N1 nói “đi mượn tiền của C”. Bị cáo chỉ đồng phạm với bị cáo N1 thực hiện hành vi lừa đảo bà C số tiền 120.000.000 đồng ngày 20/5/2023 với thủ đoạn liên tục thúc giục bà C đưa tiền để bị cáo đi cứu người (cứu bị cáo D) và chỉ cho bà C căn nhà của người khác đang xây cho là nhà của bị cáo, tạo niềm tin cho bà C, tài sản bị cáo N chiếm đoạt có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nên bị cáo bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt: khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
[5.1] Về tình tiết tăng nặng:
- Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo Nguyễn Hoàng D và Nguyễn Thị N1 cần áp dụng tình tiết “phạm tội có tổ chức” và “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm a, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, bị cáo D cần áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1 và Nguyễn Văn N được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và khắc phục một phần hậu quả” theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Biện pháp tư pháp:
[7.1] Trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả cho bà C số tiền 120.000.000 đồng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo D đã bồi thường cho bà C số tiền 50.000.000 đồng. Do đó, buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1 phải có nghĩa vụ liên đới tiếp tục bồi thường cho bà Võ Thị C số tiền 1.315.000.000 (một tỷ ba trăm mười lăm triệu) đồng.
[7.2] Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Thị N1 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, số IMEI: 353698/02/020080/8 (đã qua sử dụng, không kiểm tra máy), 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 867251055943204 của Nguyễn Hoàng D (đã qua sử dụng, không kiểm tra máy), 01 xe mô tô biển số 70P2-8260; số loại: Wave S (D); nhãn hiệu: Honda; màu sơn: đen xám; dung tích xi lanh: 109; năm sản xuất: 2010; số khung: RLHJC43169Y135294, số máy JC43E0688891; loại xe: hai bánh từ 50-175 cm³ của bị cáo Nguyễn Văn N là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 file ghi âm tên bản ghi mới 20.m4a dung lượng 1,02MB; 01 file ghi âm tên bản ghi mới 21.m4a dung lượng 4,11MB; 02 Giấy chứng nhận quyền sử đất giả số DA 080562 mang tên Nguyễn Hoàng D và số CN 978395 mang tên Nguyễn Văn N lưu vào hồ sơ vụ án.
[8] Từ nhận định trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa:
[9] Về án phí: các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo D và bị cáo N1 phải chịu chung tiền án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 cụ thể: số tiền phải thanh toán cho bị hại là 1.135.000.000 đồng phải chịu án phí là (36.000.000 đồng + (335.000.000 đồng x 3%) = 46.050.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 15 (mười lăm) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Hoàng D phải chấp hành hình phạt chung là 18 (mười tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/5/2023.
3. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54, 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
4. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thị N1 phải chấp hành hình phạt chung là 12 (mười hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/5/2023.
5. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thụ hình khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2023 đến ngày 29/5/2024.
6. Không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo.
7. Các biện pháp tư pháp:
7.1. Trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1 phải có nghĩa vụ liên đới tiếp tục bồi thường cho bà Võ Thị C số tiền 1.315.000.000 (một tỷ ba trăm mười lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
7.2. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, số IMEI: 353698/02/020080/8 của bị cáo Nguyễn Thị N1, 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI: 867251055943204 của bị cáo Nguyễn Hoàng D (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy) và 01 xe mô tô biển số 70P2-8260; số loại: Wave S (D); nhãn hiệu: Honda; màu sơn: đen xám; dung tích xi lanh: 109; năm sản xuất: 2010; số khung: RLHJC43169Y135294, số máy JC43E0688891; loại xe: hai bánh từ 50-175 cm³ của bị cáo Nguyễn Văn N.
- Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 file ghi âm tên bản ghi mới 20.m4a dung lượng 1,02MB; 01 file ghi âm tên bản ghi mới 21.m4a dung lượng 4,11MB; 02 Giấy chứng nhận quyền sử đất giả số DA 080562 mang tên Nguyễn Hoàng D và số CN 978395 mang tên Nguyễn Văn N.
8. Về án phí: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
8.1. Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
8.2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Thị N1 phải chịu chung số tiền 46.050.000 (bốn mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng.
9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người tham gia tố tụng biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng D tội lừa đảo CĐTS
