|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày 27 tháng 09 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc — |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quốc Chinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Kim Dung
Bà Bùi Việt Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa:
Ông Trần Dương Công – C/v Kiểm sát viên
Trong ngày 27 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn T
Nơi đăng ký HKTT: Thôn 3, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Thôn 3, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thành Tr – SN: 1964 và bà Huỳnh Thị K (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo giữ, bị bắt tạm giữ, tạm giam theo biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 14 tháng 06 năm 2024 (Bị cáo có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Tuấn: Ông Nguyễn Đình Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Ngô Đức V – SN: 1967
Địa chỉ: Thôn 05, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Chị Ngô Thị X – SN: 2007
Địa chỉ: Thôn 05, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho chị X: Ông Ngô Đức V – SN: 1967 là bố đẻ của chị X.
Địa chỉ: Thôn 05, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Hàm H – SN: 1993
Địa chỉ: Thôn 06, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Ông Nguyễn Đình Kh – SN: 1970
Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, T một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 47AB-974.85 (T mượn của ông Ngô Đức V), đi đến khu vực nghĩa trang thôn 8, thị trấn E, huyện E để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch), T mua 01 gói ma túy với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, trên đường về, T gặp anh Nguyễn Hàm H hỏi mượn tiền để trả tiền nhà nghỉ thì H đang đi giải quyết công việc cá nhân, chưa có tiền, T nói với H khi nào có tiền thì đến phòng số 2 nhà nghỉ số 46 đường T, tổ dân phố Đ, thị trấn E, để cho T mượn trả tiền thuê phòng. Khi đến phòng số 02 nhà nghỉ 46, đường T, T đổ ma túy vào trong ống thủy tinh, dùng quẹt ga đốt ma túy cho chảy ra, cất giấu dưới gầm giường đợi cho ma túy khô lại mới sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 25 phút cùng ngày, anh H điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 47P1-289.86 đến nhà nghỉ, đi vào phòng của T thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp lập biên bản tiến hành kiểm tra, phát hiện Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ 01 ống thủy tinh, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, T khai là ma túy đá.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Nguyễn Văn T, ngày 13 tháng 06 năm 2024, xác định kết quả T dương tính chất Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 877/KL-KTHS, ngày 14 tháng 06 năm 2024, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận chất rắn màu trắng bên trong hình cầu thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1126 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,0905 gam.
Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 0,1126 gam, loại Methamphetamine; 02 chiếc quẹt ga, loại quẹt khò, có dán nylon màu đỏ; 01 lò xo màu đen dài 1,8cm; 01 chai nhựa trong suốt, loại chai nước ngọt, có nắp dậy màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ tròn.
Cáo trạng số: 31/CT-VKS ngày 13 tháng 09 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tại phiên tòa đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T như nội dung bản cáo trạng và đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,0905 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 02 chiếc quẹt ga, loại quẹt khò, có dán nylon màu đỏ; 01 lò xo màu đen dài 1,8cm; 01 chai nhựa trong suốt, loại chai nước ngọt, có nắp dậy màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ tròn.
Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Đình Đ người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát truy tố, áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo, bởi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thuộc diện hộ nghèo, mẹ mất sớm có phần ảnh hưởng đến tâm lý của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc cho bị cáo mức án bằng mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối đáp tranh luận gì thêm, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Đức V, chị Ngô Thị X tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung, hành vi: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, T một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 47AB-974.85 đi đến khu vực nghĩa trang thôn 8, thị trấn E gặp một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch), mua 01 gói ma túy với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, trên đường về, T gặp anh Nguyễn Hàm H hỏi mượn tiền để trả tiền nhà nghỉ thì H đang đi giải quyết công việc cá nhân, chưa có tiền, T nói với H khi nào có tiền thì đến phòng số 2 nhà nghỉ số 46 đường T, tổ dân phố Đ, thị trấn E, để cho T mượn trả tiền thuê phòng. Khi về đến phòng số 02 nhà nghỉ 46, đường T, T đổ ma túy vào trong ống thủy tinh, dùng quẹt ga đốt ma túy cho chảy ra, cất giấu dưới gầm giường đợi cho ma túy khô lại mới sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 25 phút cùng ngày, anh H đến nhà nghỉ, đi vào phòng của T thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp lập biên bản tiến hành kiểm tra, phát hiện Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ 01 ống thủy tinh, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, T khai là ma túy đá, kết luận giám định chất rắn màu trắng có khối lượng 0,1126 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,0905 gam.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp về tội danh truy tố, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với pháp luật.
[4] Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án bằng mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn nên cần chấp nhận đề nghị của người bào chữa. Về án phí xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nên chấp nhận yêu cầu của người bào chữa miễn án phí cho bị cáo.
[5] Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;
[6] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nó không những trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn lôi kéo những người khác vào con đường nghiện ngập dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội.
[7] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
[8] Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thuộc diện hộ nghèo, mẹ mất sớm ảnh hưởng tâm lý của bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
[09] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp làm nông, thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[10] Đối với người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch, bị cáo T khai mua ma túy. Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh do đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát huyện Ea Súp không khởi tố nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xử lý.
Đối với anh Nguyễn Hàm H đã cho bị cáo T mượn tiền để trả tiền nhà nghỉ, anh H không biết, không tham gia cùng với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp không xử lý về hình sự là phù hợp.
[11] Các biện pháp tư pháp:
Về vật chứng: 0,0905 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 02 chiếc quẹt ga, loại quẹt khò, có dán nylon màu đỏ; 01 lò xo màu đen dài 1,8cm; 01 chai nhựa trong suốt, loại chai nước ngọt, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ tròn. Xét vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 47AB-974.85 của ông Ngô Đức V, T mượn xe để đi mua ma túy về sử dụng tại nhà nghỉ thì ông V không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp không thu giữ nên Hội đồng xét xử không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[12] Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo bị giữ, bị bắt tạm giữ, tạm giam theo biên bản giữ người trong trong trường hợp khẩn cấp ngày 14 tháng 06 năm 2024.
Các biện pháp tư pháp:
Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,0905 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 02 chiếc quẹt ga, loại quẹt khò, có dán nylon màu đỏ; 01 lò xo màu đen dài 1,8cm; 01 chai nhựa trong suốt, loại chai nước ngọt, có nắp dậy màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ tròn.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ea Súp và Chi cục thi hành án dân sự huyện E ngày 24 tháng 09 năm 2024.
Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.
Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lưu Quốc Chinh |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngày 13/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp lập biên bản tiến hành kiểm tra, phát hiện Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ 01 ống thủy tinh, bên trong có chứa chất rắn màu trắng có khối lượng 0,1126 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,0905 gam.
