|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HS-ST
Ngày 27 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đàm Thị Tư. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lục Minh Thắng |
| Ông Bùi Nhật Đại |
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị C - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu: Điểm cầu Trung tâm tại phòng xét xử, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, đối với vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Thông báo số 03/2024/TB-TA ngày 21/8/2024 "về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự" đối với bị cáo:
Hoàng Văn T, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1995 tại huyện Q, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 03/4/2024; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Long N, sinh năm 1959 và bà Hoàng Thị B, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 31/01/2024, Công an xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang ra quyết định số 03/QĐ -XPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma tuý", chưa chấp hành việc nộp phạt; nhân thân: Ngày 24/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ra quyết định số 02/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 24 (hai mươi tư) tháng, ngày 02/3/2021 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 05/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 10 phút ngày 05/6/2024, tại thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, Công an huyện B tuần tra, kiểm soát phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn, nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi quần bên trái có 02 gói giấy bạc bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin. Qua làm việc, xác định được đối tượng là Hoàng Văn T, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang và T đã khai nhận 02 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột, dạng cục màu trắng là ma túy Heroine T1 mua với giá 200.000 đồng về để sử dụng. Tổ công tác Công an huyện B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các đồ vật có liên quan gồm: 02 (hai) gói giấy bạc bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu xanh đen, BKS 23E1-16302, cũ đã qua sử dụng.
Hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn T tại thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Đồng thời, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B cũng đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Hoàng Văn T. Kết luận Hoàng Văn T dương tính với chất ma túy Heroin.
Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn T đã khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 05/6/2024, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu xanh đen, BKS 23E1-163.02 của bố là ông Hoàng Long N, sinh năm 1959, trú cùng thôn để đi giao bún cho khách tại xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Trên đường đi, T lên cơn nghiện ma túy nên đã điều kiển xe mô tô sang huyện L, tỉnh Yên Bái để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến địa phận thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, gần khu vực nghĩa trang, T gặp một người đàn ông không quen biết, dáng người cao gầy, khoảng 40 tuổi, mặc quần dài, áo phông màu đen, đội mũ lưỡi trai, đeo khẩu trang nhìn giống người nghiện ma túy nên T dừng xe, hỏi "Anh còn không để cho em 200.000 đồng", người đàn ông đồng ý, sau đó T đưa cho người đàn ông 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho T 02 gói giấy bạc, bên trong chứa ma túy Heroine. T nhận lấy 02 gói ma túy cất vào túi quần trước phía bên trái rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đến địa phận thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang thì T bị Công an huyện B kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hồi 21 giờ 46 phút, ngày 05/6/2024, Cơ quan Công an huyện B đã tiến hành cân tịnh vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T khi bắt quả tang, kết quả cân tịnh: Mẫu ký hiệu A1 có khối lượng là 0,137 gam (không phẩy một trăm ba mươi bảy gam); Mẫu ký hiệu A2 có khối lượng là 0,147 gam (không phẩy một trăm bốn mươi bảy gam). Lấy mẫu giám định ký hiệu A1, A2. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 431/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định đối với chất màu trắng dạng bột và dạng cục ký hiệu A1, A2 thu giữ của Hoàng Văn T có phải là ma túy không? Nếu có thì là loại ma túy gì? Có khối lượng là bao nhiêu?
Tại Kết luận giám định số 209/KL-KTHS, ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 02 (hai) mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2 đều là ma túy, loại Heroin (H), có tổng khối lượng là 0,284g (không phẩy hai trăm tám mươi tư gam). Heroin (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Với chứng cứ và hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 48/CT-VKSBQ ngày 29/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
* Về điều luật và hình phạt: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 05/6/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Đề nghị xử tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2” mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Toàn bộ vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Hoàng Văn T ngày 05/6/2024”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang.
* Về án phí: Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và bản ảnh bắt quả tang ngày 05/6/2024; biên bản làm việc xác định vị trí hiện trường và sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, Biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu; Bản ảnh vật chứng; Biên bản làm việc cân tịnh vật chứng và bản ảnh cân tịnh ngày 05/6/2024; Kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H cùng tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 05/6/2024, Hoàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,284g (không phẩy hai trăm tám mươi tư gam), nên bị cáo Hoàng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang đã truy tố.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi đó đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Chất ma tuý nói chung, H nói riêng là chất gây nghiện nghiêm trọng, không những huỷ hoại sức khoẻ của người mắc nghiện, hủy hoại đạo đức của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do lối sống chơi bời, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội thấy rằng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân không tốt, năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng, bị cáo đã chấp hành xong tháng 3/2021. Đồng thời, bị cáo có 01 tiền sự ngày 31/01/2024, bị Công an xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma tuý", bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi áp dụng mức hình phạt cũng xem xét để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Văn T, ngày 10/7/2024 cơ quan Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là 2.000.000₫ (hai triệu đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo đang bị tạm giam: Căn cứ vào khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy, cần tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Văn T để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
[8] Về xử lý vật chứng: Trên cơ sở vật chứng đã thu giữ trong vụ án, căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử, xác định: 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2” mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Toàn bộ vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Hoàng Văn T ngày 05/6/2024”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang, là những vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị và không sử dụng được, nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX, màu xanh đen, biển kiểm soát 23E1 - 163.02. Hội đồng xét thấy, đây là tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, nên việc trả lại của cơ quan điều tra là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, đề nghị về tội danh, đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo, đề nghị xử lý vật chứng, án phí là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 05/6/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Văn T để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Mẫu hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2” mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Toàn bộ vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Hoàng Văn T ngày 05/6/2024”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).
- Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đàm Thị Tư |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
