|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày: 11/12/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Lân .
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Thanh Long.
- Ông Nguyễn Tấn Đạt.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn S; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/02/1991 tại V, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn D, sinh năm: 1965 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1970; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, huyện V, tỉnh Bình Định từ ngày 29/8/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)
- * Bị hại:
- Bùi Thị L, sinh năm: 1955; (đã chết).
- * Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại:
- Ông Bùi Xuân N, sinh năm: 1947 - là anh ruột của bị hại (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khu A, thị trấn N, huyện P, Bình Định.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Công ty cổ phần G;
- Địa chỉ: Tòa nhà V, số H P, phường M, quận N, TP ..
- - Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hồng Q – Tổng giám đốc;
- - Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đàn Trần Bảo D1, sinh năm: 2000; (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ B, P. T, TP ., tỉnh Kon Tum.
- Nơi ở hiện tại: 201/13/18e N, phường B, quận B, TP ..
- - Ông Võ Phạm Thế C, sinh năm: 1974; (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khu A, TT. N, huyện P, Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn S có Giấy phép lái xe ô tô hạng C, là nhân viên lái xe hợp đồng của Công ty cổ phần G (trụ sở chính tại Tòa nhà VTV, số H P, phường M, quận N, TP .) theo Hợp đồng thử việc từ ngày 13/6/2024 đến ngày 13/7/2024. Chiều ngày 07/7/2024, S điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 chở bưu phẩm từ kho liên vùng của Công ty ở huyện T, tỉnh Bình Định chạy theo lộ trình đến thị xã H, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 16 giờ 05 phút cùng ngày, S điều khiển ô tô nói trên đi đến Km1196+420 đường Q thuộc khu phố A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định trên làn đường xe cơ giới phía Đông đường quốc lộ 1A theo hướng Nam – Bắc với tốc độ khoảng 40km/giờ. Đây là đoạn đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 12,15m, trục đường B - N, giữa đường có vạch kẻ đường đứt quãng màu vàng rộng 0,15m phân chia thành hai chiều đường xe chạy, mỗi chiều rộng 06m; Mỗi chiều đường có vạch kẻ đường đứt quãng màu trắng rộng 0,15m phân chia thành hai làn đường dành cho xe cơ giới rộng 3,4m và làn đường dành cho xe thô sơ rộng 2,45m; Hai bên đường là nhà dân có vỉa hè bằng gạch, bê tông rộng 5m; Phía Nam đường QL1A là đoạn đường hơi cong về bên phải, có đèn tín hiệu màu vàng nhấp nháy và biển báo hiệu đi chậm.
Khi qua đoạn đường hơi cong, do thiếu chú ý quan sát, Trần Văn S không phát hiện để giữ khoảng cách an toàn với xe đạp do bà Bùi Thị L, sinh năm: 1955 ở khu phố A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định đang điều khiển phía trước cùng chiều trên làn đường dành cho xe thô sơ gần sát mép đường phía Đông. Lúc này, để phòng tránh tai nạn với các phương tiện điều khiển ngược chiều nên đã điều khiển xe ô tô tải đi không đúng làn đường, chạy qua làn đường dành cho xe thô sơ, để đầu xe ô tô va chạm vào phía sau xe đạp của bà L. Sau va chạm xe ô tô 50H-270.54 cuốn xe đạp và bà L dưới gầm xe sau đó lao lên vỉa hè phía Đông đường QL1A va chạm vào mái hiên và biển quảng cáo nhà anh Võ Phạm Thế C, sinh năm: 1974 ở khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định thì dừng lại. Hậu quả: Bà Bùi Thị L chết, hai phương tiện, mái hiên và biển quảng cáo nhà anh C bị hư hỏng nhẹ.
3
Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 200/KLGĐTT-PYBĐ ngày 15/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của Bùi Thị L là do: Suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do chấn thương gãy gãy cột sống cổ chèn ép tủy C da chấn thương.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Trần Văn S tại Trung tâm y tế huyện P vào ngày 07/7/2024 là 0mg/dL và âm tính với các chất ma túy; Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bà Bùi Thị L là 0mg/dL.
Hiện trường vụ tai nạn có sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện kèm theo hồ sơ vụ án.
* Về phương tiện, tang vật liên quan đến vụ tai nạn: Sau tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tạm giữ và xử lý trả lại cho các chủ sở hữu và người đại diện:
- - 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn S do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 17/4/2024 có giá trị đến ngày 17/4/2029;
- - 01 (một) xe đạp bị hư hỏng sau tai nạn;
- - 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 bị hư hỏng sau tai nạn;
- - 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54;
- - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 có hiệu lực đến ngày 26/10/2025;
- - 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 có thời hạn đến ngày 08/11/2024.
* Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trích xuất, sao lưu 02 đoạn video tại shop quần áo TOP MEN và tại nhà anh Võ Phạm Thế C ghi lại diễn biến vụ tai nạn vào đĩa DVD kèm theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã chủ động thương lượng, thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại và đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đối với hai phương tiện và phần mái hiên, biển quảng cáo bị hư hỏng, bị cáo đã thỏa thuận khắc phục xong, các chủ sở hữu đều từ chối định giá, không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKSPC, ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn S về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy
4
định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Trần Văn S với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
- - Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không.
Tại phiên tòa, trong phần tự bào chữa, bị cáo Trần Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo ủy quyền gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định pháp y về tử thi và đã được HĐXX thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
5
Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 07/7/2024 tại Km1946+420 đường Q thuộc khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định là do Trần Văn S (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 tham gia giao thông đường bộ nhưng thiếu chú ý quan sát, để phòng tránh tai nạn với các phương tiện chạy ngược chiều nên đi không đúng làn đường quy định và không giữ khoảng cách an toàn với xe đạp do bà Bùi Thị L điều khiển phía trước cùng chiều trên làn đường xe thô sơ gây ra tai nạn làm bà L chết.
Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ của Trần Văn S đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ làm một người chết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố để cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Trần Văn S về tội danh và khung hình phạt nêu trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng trên lĩnh vực giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an toàn giao thông công cộng ở địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình chung tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo đã gây ra để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[3]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ý ăn năn, hối cải. Bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại, khắc phục tốt hậu quả cho gia đình bị hại và tại đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại cũng đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Xét gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương nên HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Đồng thời, xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng nhưng do lỗi vô ý, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên HĐXX thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt có điều kiện đối với bị cáo mà xem xét áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tích cực học tập, cải tạo để hoàn thiện bản thân.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
6
[4.1]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chủ động thương lượng, thỏa thuận bồi thường khắc phục xong cho gia đình bị hại, cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[4.2]. Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn S do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 17/4/2024 có giá trị đến ngày 17/4/2029; 01 (một) xe đạp bị hư hỏng sau tai nạn; 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 bị hư hỏng sau tai nạn; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 có hiệu lực đến ngày 26/10/2025; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-270.54 có thời hạn đến ngày 08/11/2024 cho các chủ sở hữu và người đại diện theo đúng quy định nên HĐXX không xem xét.
[5]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Văn S 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án 11/12/2024.
Giao bị cáo Trần Văn S cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
7
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
3.1. Trách nhiệm dân sự: Không.
3.2. Xử lý vật chứng: Không.
4. Về án phí:
Bị cáo Trần Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
8
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Thanh Long Nguyễn Tấn Đạt |
Phan Lê Lân |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRẦN VĂN S - VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
