Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HSST

Ngày 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Dương Thắng.

Bà Châu Thị Chúc.

- Thư ký phiên toà: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST - HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST- HS ngày 17/9/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 01-01-1976; nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, (chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1943; có vợ tên Đặng Thị T1, sinh năm 1983 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Huỳnh Thị Ngọc T2, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, Sóc Trăng (Vắng mặt)
  2. Bà Đặng Thị C, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, Sóc Trăng (Có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn C1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, Sóc Trăng. (Vắng mặt, Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Ông Trần Hoàng V, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Bà Sơn Thị Hiếu T3, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Ấp X, TT. C, huyện C, Sóc Trăng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Bà Nguyễn Anh T4, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, Sóc Trăng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện C, Sóc Trăng (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Ông Cao Việt T5, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  7. Ông Huỳnh Phú N, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt, Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  8. Bà Trần Thị Mỹ T6, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
  9. Ông Võ Minh T7, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
  10. Trần Văn C2, sinh năm 1951. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
  11. Bà Tạ Thị L1, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
  12. Ông Văn Minh N1, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện C, Sóc Trăng (Có mặt).
  13. Bà Đặng Thị Mộng C3, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
  14. Ông Văn Công Ú, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện C, Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 18/8/2023, lực lượng Công an xã T đang tiến hành làm việc với đối tượng Văn Minh N1 (là bạn trai của cháu vợ bị cáo H) trong vụ việc “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 18/8/2023 tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, thì bị cáo H đến trụ sở Công an xã T để yêu cầu lực lượng Công an xã T làm việc nhanh với N1 và cho N1 đi về. Mặc dù đã được các chiến sĩ Công an xã T nhiều lần giải thích và yêu cầu bị cáo H giữ trật tự, ra khỏi cơ quan để các chiến sĩ Công an xã T tiếp tục làm việc, nhưng bị cáo H không chấp hành mà liên tục có nhiều lời lẽ lớn tiếng tại trụ sở Công an xã T. Lúc này, đồng chí Lê Văn C1 - Trưởng Công an xã T mới yêu cầu bị can H ra khỏi cơ quan do không có liên quan đến vụ việc mà Công an xã T đang giải quyết, nhưng bị cáo H vẫn không chấp hành mà tiếp tục có những lời lẽ thách thức như “ai đánh tao, tao cho 01 triệu” và chửi thề “Đụ má, đụ mẹ” nhiều lần tại trụ sở Công an xã, thấy vậy đồng chí C1 mới bước đến khống chế bị cáo H để đưa vào cơ quan làm việc do có hành vi gây rối tại trụ sở cơ quan, nhưng bị cáo H kháng cự, nên đồng chí C1 buông bị cáo H ra, thì bị cáo H bước đến dùng tay nắm cổ áo của đồng chí C1 làm áo đồng chí C1 bị rách. Thấy vậy, nên các chiến sĩ Công an xã T mới bước đến kéo bị cáo H ra thì bị cáo H tiếp tục lớn tiếng, chửi bới lực lượng công an trước trụ sở Công an xã T và có lời nói hâm dọa đồng chí C1 như “mày làm việc không quá 03 ngày nữa sẽ nghỉ vì đánh tao, tao sẽ nói với dượng của tao làm ở tỉnh xử lý mày”, rồi sau đó bỏ đi ra ngoài hút thuốc.

Một lúc sau, bị cáo H tiếp tục quay lại trước trụ sở Công an xã T và dùng những lời nói thô tục, chửi bới lớn tiếng xúc phạm đồng chí C1 và lực lượng Công an xã T. Lúc này, đồng chí C1 mới gọi điện cho đồng chí Trần Hoàng V - là Phó Trưởng Công an xã T vào cơ quan để hỗ trợ giải quyết vụ việc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đồng chí V đến cơ quan thì thấy bị cáo H có những lời nói thô tục như “Đụ má, đụ mẹ Công an là con cặt gì, công an làm con cặt gì” và chửi bới lớn tiếng trước trụ sở cơ quan, nên đồng chí V yêu cầu bị cáo H dừng ngay hành vi gây rối của mình và rời khỏi khu vực trên để không ảnh hưởng đến các chiến sĩ khác đang làm việc tại cơ quan. Tuy nhiên, bị cáo H không chấp hành, mà tiếp tục có những lời nói thô tục, chửi bới lớn tiếng trước trụ sở cơ quan, nên đồng chí V đi đến để mời bị cáo H vào trụ sở làm việc thì bị cáo H dùng tay phải móc từ trong túi quần phía sau bên phải ra một cây dao (loại thái lan) cầm trên tay định chống trả thì được mọi người can ngăn, nên bị cáo H vứt bỏ cây dao và đi về nhà thì sự việc kết thúc. Xét thấy, vụ việc có dấu hiệu tội phạm, nên Công an xã T đã lập biên bản và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 07/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn H, về “Tội gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vật chứng của vụ án: trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định tạm giữ:

  • Tạm giữ của ông Huỳnh Phú N: 01 đĩa CD-R, nhãn hiệu RISHENG, màu hồng trắng, bên trong có chứa đựng đoạn video 1, thời gian 43 giây, dung lượng 43,1MB; Đoạn video 2, thời gian 02 phút 28 giây, dung lượng 147,5MB.
  • Tạm giữ của Nguyễn Anh T4: 01 đĩa CD-R, nhãn hiệu RISHENG, màu hồng trắng, bên trong có đoạn video 1, thời gian 02 phút 10 giây, dung lượng 128,1MB; Đoạn video 2, thời gian 24 giây, dung lượng 23,3MB; Đoạn video 3, thời gian 11 giây, dung lượng 10,5MB; Đoạn video 4, thời gian 01 phút 07 giây, dung lượng 66,3MB; Đoạn video 5, thời gian 01 phút 45 phút, dung lượng 103,3MB; Đoạn video 6, thời gian 03 phút 39 giây, dung lượng 216,1 MB.
  • Tạm giữ của ông Nguyễn Hoàng L: 01 đĩa CD-R, nhãn hiệu RISHENG, màu hồng trắng, bên trong có chứa đựng đoạn video, thời gian 08 phút 31 giây, dung lượng 498,5MB.
  • Tạm giữ của ông Lê Văn C1: 01 cái áo thun cổ tròn ngắn tay, màu xám, phía trước có chữ CROSSFIT màu xanh, bị rách ở vị trí cổ áo và hai vai áo.

Đối với vật chứng là 01 cái áo thun, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành để tiếp tục tạm giữ xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với các đĩa CD-R có chứa các đoạn video, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã đánh số bút lục, lưu theo hồ sơ vụ án. Riêng đối với vật chứng là 01 cây dao (loại dao thái lan), cán dao màu vàng, lưỡi dao màu trắng, sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm thấy, nên không đặt ra xem xét.

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT- VKS- CT ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về “Tội gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm “Tội gây rối trật tự công cộng” và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2024.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho ông Lê Văn C1: 01 cái áo thun cổ tròn ngắn tay, màu xám, phía trước có chữ CROSSFIT màu xanh, bị rách ở vị trí cổ áo và hai vai áo. Đối với các đĩa CD-R chứa các đoạn video đã được Cơ quan điều tra đánh số bút lục lưu theo hồ sơ vụ án, nên không đặt ra xem xét.

Bị cáo thống nhất theo quan điểm luận tội, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên huyện C trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Huỳnh Thị Ngọc T2 và các người làm chứng ông Lê Văn C1, ông Trần Hoàng V, bà Sơn Thị Hiếu T3, bà Nguyễn Anh T4, ông Nguyễn Hoàng L, ông Cao Việt T5, ông Huỳnh Phú N, ông Văn Công Ú. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông C1, ông V, bà T3, bà T4, ông L, ông T5, ông N (có đơn xin xét xử vắng mặt); bà T2, ông Ú vắng mặt không có lý do, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên toà. Căn cứ vào các Điều 292, 293, 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng, do đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 18/8/2023, chỉ vì không được Công an xã T thực hiện theo yêu cầu cho đương sự trong vụ việc khác về nhà do bị mời làm việc và bị lực lượng Công an xã T mời ra khỏi trụ sở Công an xã T do không có liên quan đến vụ việc, nên bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng lời nói thô tục, chửi bới lớn tiếng hơn 01 giờ tại khu vực trụ sở Công an xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, gây tập trung đông người, làm cản trở sự hoạt động bình thường của đơn vị vũ trang nhân dân là Công an xã T. Đồng thời, bị cáo Nguyễn Văn H còn có hành vi dùng hung khí là dao thái lan định chống trả lại đối với ông Trần Hoàng V, là Phó Công an xã T, khi ông V yêu cầu bị cáo vào trụ sở để làm việc, thì được mọi người can ngăn. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành “Tội gây rối trật tự công cộng” và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 318 Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”.

[4] Xét về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn H có tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính hung hăn, xem thường pháp luật, làm cản trở đến các hoạt động của đơn vị vũ trang nhân dân là Công an xã T, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần mức án hình phạt nghiêm khắc, để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội; đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm trật tự công cộng có chiều hướng gia tăng.

[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Tình tiết tăng nặng: Khi thực hiện hành vị phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thân nhân (cậu ruột) là người có công với cách mạng (liệt sĩ), nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Vật chứng của vụ án: Đối với 01 cái áo thun cổ tròn ngắn tay, màu xám, phía trước có chữ CROSSFIT màu xanh, bị rách ở vị trí cổ áo và hai vai áo của ông Lê Văn C1, nên cần giao trả lại cho ông Lê Văn C1 theo quy định của pháp luật. Đối với các đĩa CD-R chứa các đoạn video đã được Cơ quan điều tra đã niêm phong, đánh số bút lục và lưu vào hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Riêng đối với vật chứng là 01 cây dao (loại dao thái lan), cán dao màu vàng, lưỡi dao màu trắng, sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm thấy, nên không đặt ra xem xét.

[7] Đối với các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Ngọc T2 và Đặng Thị C: Trong quá trình điều tra đã chứng minh được, vào ngày 18/8/2023, trong quá trình ông H gây rối trật tự công cộng tại Công an xã T, thì bà Huỳnh Thị Ngọc T2 và Đặng Thị C cũng có đến Công an xã T và có dùng lời nói thô tục để xúc phạm, lăng mạ lực lượng Công an xã T, tuy nhiên hành vi của bà T2, bà C chỉ là bộc phát nhất thời do không đồng ý với cách làm việc của Công an xã T, chứ không cố ý cùng với với bị cáo H gây rối trật tự công cộng. Đồng thời, khi thấy bị cáo H có hành vi quá khích, chửi bới lớn tiếng trước trụ sở Công an xã T, thì bà T2 và bà C đã can ngăn ông H lại, nhưng ông H vẫn thực hiện. Do đó, hành vi của bà T2, bà C chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm “Tội gây rối trật tự công cộng” với vai trò đồng phạm cùng bị cáo Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, hành vi xúc phạm, lăng mạ lực lượng Công an xã T của bà T2, bà C là vi phạm hành chính, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà T2 và bà C là có căn cứ, nên không đặt ra để xem xét.

Lời đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tội gây rối trật tự công cộng”.
  2. - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2024.

  3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. T8 giao trả 01 cái áo thun cổ tròn ngắn tay, màu xám, phía trước có chữ CROSSFIT màu xanh, bị rách ở vị trí cổ áo và hai vai áo cho chủ sở hữu là ông Lê Văn C1 (Theo biên bản giao nhận, vật chứng ngày 27/8/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng).

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi & NVLQ
  • - Chi cục THA huyện Châu Thành;
  • - CQ. THA HS – CAH. Châu Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về tội gây rối trật tự công cộng (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 50/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội gây rối trật tự công cộng (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H có hành vi lên trụ sở Công an xã gây rối do Công an xã không cho Anh T4 về do đang làm việc với Anh T4.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger