|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2024/HS-ST. Ngày: 06 - 09 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Trọng Thơi.
2. Ông Nguyễn Văn Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 09 năm 2024, điểm cầu trung tâm: Tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Điểm cầu thành phần: Tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 08 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, tên gọi khác: Đen; sinh ngày 23 tháng 01 năm 2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: Số nhà H, ngõ A, kiệt C đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông: Trần Văn T1 và con bà Lê Thị Kim T2 (Đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: 01 tiền án (Ngày 12/7/2022, bị Toà án nhân dân thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” theo Bản án số: 37/2022/HS-ST); tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/9/2019, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt “Cảnh cáo” về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác” (Quyết định số: 2373/QĐ-XPHC). Ngày 15/11/2019, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số: 3533/QĐ-XPHC). Ngày 21/2/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm tù về tội: “Cướp giật tài sản” theo Bản án số: 26/2020/HS-ST). Tạm giữ ngày 23/04/2024, tạm giam ngày 26/04/2024. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Võ Thị Hồng N, sinh năm 1997. Địa chỉ: 1 T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
2. Anh Huỳnh Đắc P, sinh năm 2004. Địa chỉ: Số D V, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Ngô Văn L, sinh năm 1964. Địa chỉ: 3 N, phường T thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản Cáo trạng số: 46/CT-VKS-Hth, ngày 30 tháng 07 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Trần Văn T về hành vi phạm tội:
Do cần ma tuý để sử dụng nên khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 22/4/2024, Trần Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 75F2 - 165.19 xe của chị Võ Thị Hồng N, đến khu vực “B", đường T, phường Đ, thành phố H, để tìm mua ma tuý. Tại đây, T gặp 01 nam thanh niên tên thường gọi là “Bôn” (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 05 viên ma túy loại “Kẹo” và “Một hộp năm” ma túy loại “khay”, thì được người này báo giá là 6.100.000 đồng. T đồng ý mua và đưa tiền cho người bán ma túy thì được người này đưa lại 01 gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa số ma tuý như T đặt mua. Sau khi có được ma tuý, T cất giấu vào túi quần bên trái, đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng thị xã H, để tìm địa điểm sử dụng. Đến khoảng 22 giở 50 phút cùng ngày, khi T đi đến đường V, trước mặt khách sạn T3, thuộc Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang.
Cơ quan điều tra tiến hành thử nhanh bằng que thử đối với nước tiểu của Trần Văn T cho kết quả: Dương tính với ma túy, loại: Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 (Một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa tổng cộng 05 (Năm) viên nén không rõ hình dạng, màu xám và 02 (Hai) túi nilông màu trắng, viền đỏ, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong;
- - 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 75F2 - 165.19, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, có số Imei 1: 350141787087426, số Imei 2: 350141787153640; bên trong có chứa sim điện thoại số: 0796.915.xxx.
Tại Bản kết luận giám định số: 276/KL-KTHS ngày 26/4/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận:
- - 05 (Năm) viên nén không rõ hình dạng đều có màu xám gửi giám định có tổng khối lượng là 1,9016g (một phẩy chín không mười sáu gam) là ma tuý, loại: MDMA.
- - Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định, có tổng khối lượng là: 3,0875g (ba phẩy không tám bảy năm gam), là ma túy, loại Ketamine.
H lại đối tượng giám định gồm:
- - 1,7516g (Một phẩy bảy năm mười sáu gam) mẫu bột được nghiền từ 05 (năm) viên nén đều có màu xám và 2,9875g (Hai phẩy chín tám bảy năm gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng; cùng các vật dụng dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng đối với bị cáo; áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù; xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì có đủ cơ sở để kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 22/4/2024, tại đường V, Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Văn T đã tàng trữ trái phép 1,9016g (Một phẩy chín không một sáu gam) ma túy loại MDMA và 3,0875g (Ba phẩy không tám bảy lăm gam) ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Trần Văn T tàng trữ trái phép hai chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên việc tính tổng khối lượng để xác định tình tiết định khung hình phạt được tính như sau:
Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu MDMA quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (1,9016/05g) x 100 = 38,032%;
Tỷ lệ phầm trăm khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu Ketamin quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (3,0875/20g) x100 = 15,4375%.
Với tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của hai chất ma túy trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: 38,032% + 15,4375% = 53,4695% (thuộc trường hợp dưới 100%). Do đó, hành vi của Trần Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là chính xác, đúng pháp luật.
[3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần, sử dụng rất nguy hiểm cho sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Xét bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại về ma túy nhưng vẫn cố tình sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị pháp luật xử phạt tù nhưng không rèn luyện phẩm chất, đạo đức tốt, bị cáo có tiền án mà tiếp tục phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét cho bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo như mức đề nghị của Viện kiểm sát là hợp lý.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với 1,7516g (Một phẩy bảy năm mười sáu gam) mẫu bột được nghiền từ 05 (năm) viên nén đều có màu xám và 2,9875g (Hai phẩy chín tám bảy năm gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng, là ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 75F2 - 165.19, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng là tài sản hợp pháp của chị Võ Thị Hồng N, nên trả lại cho chị N.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, có số Imei 1: 350141787087426, số Imei 2: 350141787153640; bên trong có chứa sim điện thoại số: 0796.915.xxx của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Trần văn T.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Trần Văn T (Tên gọi khác: Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 23/4/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy 1,7516g (Một phẩy bảy năm mười sáu gam) mẫu bột được nghiền từ 05 (năm) viên nén đều có màu xám và 2,9875g (Hai phẩy chín tám bảy năm gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng.
Trả lại cho chị Võ Thị Hồng N 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát: 75F2 - 165.19, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, không có mang xe (Kèm chìa khóa xe).
Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, có số Imei 1: 350141787087426, số Imei 2: 350141787153640; bên trong có chứa sim điện thoại số: 0796.915.xxx.
Hiện vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã H, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Quý Vân |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T (Tên gọi khác: Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
