TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HS - ST Ngày: 07 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Hồng Thái
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
- Thư ký phiên toà: Ông Ma Đình Dũng - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST - HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18/5/1998; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Quang C, sinh năm 1977 và bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1976; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người tham gia tố tụng khác:
* Bị hại: Bà Chu Thị Kim H1, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
- + Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1973
- Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).
- + Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1961
- Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa).
- + Ông Nguyễn Quốc S, sinh năm 1966
- Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn T thường xuyên mua chim cảnh, thức ăn cho chim tại Cửa hàng mua bán chim cảnh của bà Chu Thị Kim H1, sinh năm 1971, trú tại: xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và có nợ bà H1 số tiền 6.100.000₫ (Sáu triệu một trăm nghìn đồng). Ngày 23/10/2023, Lê Văn T đến xin bà H1 cho làm công tại cửa hàng, tiền công sẽ dùng để trừ vào số tiền nợ trên và được bà H1 đồng ý. Công việc của T là lau dọn cửa hàng, chăm sóc chim cảnh. Khi đến làm việc tại cửa hàng, T thấy cửa hàng có nhiều lồng chim cảnh và bà H1 thường bận chăm sóc chồng bị bệnh nên không thường xuyên kiểm đếm số lượng chim cảnh nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chim cảnh của cửa hàng bà H1 đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân và T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp chim cảnh của cửa hàng bà H1, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/10/2023, lợi dụng lúc bà H1 đang ở bên nhà chính chăm sóc chồng, còn lại một mình T ở cửa hàng (gian nhà bên cạnh nhà chính), T lén mở cửa lồng chim rồi thò tay vào trong bắt trộm được 04 con chim cảnh gồm: 01 con chim Họa mi đã thuần, đã biết hót; 01 con chim Khướu bạc má đã thuần, đã biết hót; 01 con chim Chích chòe lửa chưa thuần, chưa biết hót; 01 con chim Chích chòe than chưa thuần, chưa biết hót. Sau đó T cho chim vào các túi lưới, tất chân (có sẵn tại cửa hàng) rồi giấu vào trong túi quần T đang mặc trên người, sau đó T đem về cất giấu trong lồng chim phía sau vườn của nhà T.
Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/10/2023, do bà H1 đưa chồng đi bệnh viện cấp cứu nên bà H1 giao cho T ở nhà trông cửa hàng, chăn chim và dặn T không được bán chim. Sau khi bà H1 đưa chồng đi viện, còn lại một mình T trông cửa hàng, T tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp chim cảnh của cửa hàng bà H1. Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, T mở lồng chim, thò tay vào trong bắt được 04 con chim cảnh, gồm: 02 con chim Khướu bạc má đã thuần, đã biết hót; 02 con chim Chích chòe than chưa thuần, chưa biết hót. Thức cho 02 con chim Khướu bạc má vào trong túi lưới và 02 con chim Chích chòe than vào trong chiếc tất chân rồi cất giấu toàn bộ số chim trên vào trong túi quần T đang mặc trên người. Sau đó, T đến gửi 02 con chim Khướu bạc má tại nhà bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1973, trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là bác ruột của T, còn lại 02 con chim Chích chòe than T đem về cất giấu ở vườn phía sau nhà của T.
Tổng số chim hai lần Thức trộm cắp của bà H1 là 08 con, gồm: 03 con chim Khướu bạc má đã thuần, đã biết hót; 01 con chim Hoạ mi đã thuần, đã biết hót; 01 con chim Chích choè lửa chưa biết hót; 03 con chim Chích choè than chưa biết hót.
Cùng ngày 26/10/2023, T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “T” của T để truy cập vào nhóm “Hội chim cảnh Thái Nguyên” đăng hình ảnh kèm nội dung giao bán và đã bán được 06 con chim cảnh với tổng số tiền là 5.500.000 đồng. Trong đó: Bán 01 con chim Họa mi giá 2.500.000 đồng, 01 con chim Khướu bạc má giá 2.000.000 đồng cho một người nam giới không quen biết, không nhớ rõ tên tuổi, số điện thoại, trú tại huyện T, thành phố Hải Phòng, phương thức giao hàng gửi qua nhà xe T3; bán 01 con chim Chích chòe than giá 250.000 đồng cho một người nam giới không quen biết ở Ngã ba Khu Ô, xã P, huyện Đ; bán 01 con chim Chích chòe lửa và 02 con chim Chích chòe than cho một người nam giới không quen biết ở thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giá 250.000 đồng/con, thu lợi 750.000 đồng. Số tiền thu được từ việc bán chim nêu trên, T đã tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi về nhà kiểm tra phát hiện bị mất chim, ngày 26/10/2023, bà Chu Thị Kim H1 đã làm đơn trình báo Công an xã B, huyện Đ đề nghị giải quyết.
Công an xã B, huyện Đ đã lập Biên bản sự việc, xác minh và xác định Lê Văn T là người đã thực hiện hành vi trộm cắp chim cảnh của cửa hàng bà H1. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã B đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 78/KL - HĐĐG ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Đ, kết luận: Tại thời điểm tháng 10/2023:
- + 01 con chim Họa mi, màu vàng, 03 năm tuổi, đã thuần, đã biết hót: Giá trị 2.000.000 đồng;
- + 03 con chim Khướu bạc má, lông màu đen, cánh có lông vũ màu trắng, 02 năm tuổi, đã thuần, đã biết hót: Giá trị 5.400.000 đồng;
- + 01 con chim Chích chòe lửa, lông màu đen vàng, mới nuôi, chưa thuần, chưa biết hót: Giá trị 300.000 đồng;
- + 03 con chim Chích chòe than, lông màu đen, cánh có một số lông điểm trắng, mới nuôi, chim chưa thuần, chưa biết hót: Giá trị 900.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên toà Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản (chim cảnh) của cửa hàng bà H1 như nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- + 02 con chim Khướu bạc má đã thuần, đã biết hót. Ngày 27/10/2023, T đã trả lại cho bà H1.
- + 06 con chim cảnh gồm: 01 con chim Họa mi, 01 con chim Khướu bạc má, 03 con chim Chích chòe than, 01 con chim Chích chòe lửa. Lê Văn T đã bán cho những người không quen biết, không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo và mẹ đẻ là bà Hoàng Thị H đã trả cho bà H1 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) trong đó 6.100.000 đồng là trả tiền bị cáo nợ bà H1 trước đó, số tiền 3.900.000 đồng là tiền bồi thường cho số chim cảnh bị cáo trộm cắp và đã bán không thu hồi lại được. Bà H1 không yêu cầu T bồi thường gì thêm. Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt bà H1 có quan điểm xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSĐH, ngày 20/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại bà H1 số tiền 3.900.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- + Đối với 02 con chim Khướu bạc má, đã thuần, đã biết hót. Bị hại bà Chu Thị Kim H1 đã nhận lại và không có ý kiến gì khác.
- + Đối với 06 con chim cảnh gồm: 01 con chim Họa mi, 01 con chim Khướu bạc má, 03 con chim Chích chòe than, 01 con chim Chích chòe lửa. Lê Văn T đã bán cho những người không quen biết, không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không thu hồi được.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản Luận tội của Viện kiểm sát. Thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy:
Trong hai ngày 25/10/2023 và 26/10/2023, tại Cửa hàng mua bán chim cảnh của bà Chu Thị Kim H1 thuộc xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Lê Văn T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà H1 là 08 con chim cảnh, cụ thể:
- + Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/10/2023, T đã trộm cắp 01 con chim Họa mi, 01 con chim Khướu bạc má, 01 con chim Chích chòe lửa, 01 con chim Chích chòe than. Tổng giá trị là 4.400.000₫ (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).
- + Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/10/2023, T tiếp tục trộm cắp 02 con chim Khướu bạc má, 02 con chim chích chòe than. Tổng giá trị 4.200.000₫ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản 02 lần Thức trộm cắp của bà H1 là 8.600.000đ (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng).
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với đơn trình báo của bị hại, biên bản sự việc, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 173 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi của bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nên cần được xử lý nghiêm minh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và phòng ngừa chung.
[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Ngoài ra bị hại bà H1 xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội 2 lần trở lên do đó bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nhằm răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, do đó xét thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định nộp ngân sách Nhà Nước.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo và mẹ đẻ của bị cáo là bà Hoàng Thị H đã bồi thường thiệt hại cho bà H1 với tổng số tiền 3.900.000 đồng, xét thấy cần ghi nhận việc bồi thường này. Bị hại bà H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà H không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[7]. Vật chứng của vụ án.
- + Đối với 02 con chim Khướu bạc má, đã thuần, đã biết hót: Bị hại bà Chu Thị Kim H1 đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác.
- + Đối với 06 con chim cảnh gồm: 01 con chim Họa mi, 01 con chim Khướu bạc má, 02 con chim Chích chòe than, 01 con chim Chích chòe lửa. Lê Văn T đã bán cho những người nam giới không rõ nhân thân, lai lịch Lê Văn T đã bán cho những người không quen biết, không rõ nhân thân, lai lịch nên không thu hồi được.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Các nội dung có liên quan khác: Bà Hoàng Thị T1 là người cho T gửi 02 con chim K bạc má tại nhà bà T1. Tuy nhiên, bà T1 không biết đó là tài sản do T trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không xem xét xử lý đối với bà T1 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành bản án. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà H báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Vắng mặt bị hại bà H1 báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết/.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Triệu Cẩm Chi |
Bản án số 50/2024/HS - ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 50/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”
