|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 50/2024/HS-ST Ngày: 17/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huệ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Sơn và ông Lê Xuân Hường
- Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà - Thư ký TAND huyện Thạch Hà.
- Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn C - Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST - HS, ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST - HS, ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Phúc T; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 16/11/1974, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú và cư trú: Xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Phạm Phúc Đ (đã mất). Con bà: Nguyễn Thị T1 (đã mất). Anh chị em ruột: Không. Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1977; Con: 04 người con, con lớn nhất sinh 1996, con nhỏ nhất sinh 2003. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An từ ngày 16/5/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Anh Hồ Văn H, sinh năm 1973, cư trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
1
Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1977. Trú tại: Xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Ông Trần Nhật P, sinh năm 1976. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ sáng ngày 18/01/2024, Phạm Phúc T có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát (BKS) 37C-254.72 chở vợ là chị Nguyễn Thị T2 di chuyển từ tỉnh Thừa Thiên Huế về tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, Phạm Phúc T điều khiển xe di chuyển trên tuyến đường Quốc lộ 15B hướng từ huyện C đến vòng xuyến xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, di chuyển đến Km31 đường Quốc lộ 15B thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện T, Hà Tĩnh. Tại thời điểm này, thời tiết khô ráo, có nắng, mật độ phương tiện tham gia giao thông thưa. Quá trình điều khiển xe, T quan sát thấy phía trước có 01 phương tiện xe ô tô tải (không xác định biển kiểm soát, nhãn hiệu) đang di chuyển cùng chiều và có dấu hiệu di chuyển về phía bên phải để tấp vào lề đường. Thấy vậy, Phạm Phúc T đạp ga tăng tốc độ xe ô tô BKS 37C-254.72 để vượt qua về phía bên trái xe ô tô tải di chuyển phía trước, cùng chiều nói trên.
Khi đầu xe ô tô BKS 37C-254.72 vượt lên ngang khoảng nửa thân xe bên trái xe ô tô tải nói trên thì T quan sát thấy anh Hồ Văn H, sinh năm 1973, cư trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển xe đạp, xuất hiện từ phía trước, bên trái đầu xe ô tô tải nói trên đi ra gần giữa lòng đường, di chuyển chéo theo hướng ngược chiều, từ phải sang trái so với chiều di chuyển của xe ô tô do T điều khiển.
Lúc này, Phạm Phúc T liền đánh lái xe ô tô sang bên trái để tránh va chạm, đồng thời đạp phanh xe ô tô. Tuy nhiên, xe ô tô do T điều khiển đang di chuyển với tốc độ cao nên phía trước, bên phải đầu xe ô tô tải BKS 37C-254.72 đã va chạm vào phía bên trái xe đạp do anh Hồ Văn H điều khiển. Xe ô tô tải do T điều khiển tiếp tục di chuyển sang phần đường ngược chiều, lao xuống bờ ruộng bên trái đường Quốc lộ 15B theo chiều di chuyển, rồi dừng lại. Phạm Phúc T và vợ liền quay lại hiện trường thì thấy anh H và xe đạp ngã, nằm giữa lòng đường; thấy anh H vẫn còn thở nên T đã sơ cứu, vuốt ngực và lấy nước cho anh H uống sau đó cùng người dân đưa anh H đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu. Do vết thương quá nặng nên đến ngày 20/01/2024 thì anh Hồ Văn H đã tử vong.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Phạm Phúc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
2
Kết quả điều tra xác định, Phạm Phúc T đã được Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp giấy phép lái xe hạng C còn hiệu lực, đủ điều kiện điều khiển xe ô tô tải. Tại thời điểm điều khiển phương tiện gây tai nạn, Phạm Phúc T không sử dụng rượu, bia hay chất kích thích gì khác; anh Hồ Văn H không sử dụng rượu, bia.
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 18/01/2024 phản ánh:
Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là Km31+140 đường quốc lộ 15B, thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là đoạn đường đi qua cánh đồng, cách xa khu vực dân cư, rộng, thẳng thoáng, không bị che khuất tầm nhìn; có giao nhau với đường bê tông nội đồng. Đường quốc lộ 15B đoạn xảy ra vụ tai nạn giao thông được rải nhựa bằng phẳng, được chia thành 2 phần đường phân định bởi vạch sơn đứt quãng màu vàng, mỗi phần đường rộng 5,10 mét. Tại đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông không có hệ thống biển báo hiệu giao thông, không có hệ thống camera giám sát.
Lấy cột mốc ký hiệu H2/31 cắm tại lề đường bên trái đường Quốc lộ 15B hướng từ xã T đến xã T làm mốc cố định. Lấy mép đường nhựa phía bên trái đường QL15B hướng từ xã T đến xã T làm chuẩn.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được mô tả thứ tự theo hướng từ xã T đến xã T và theo số thứ tự ký hiệu trên sơ đồ hiện trường.
Từ điểm mốc cố định đo đến điểm đầu vết trượt lốp và vết cày đất là 60 mét. Vết trượt lốp và vết cày đất có ký hiệu số (1) trên hiện trường. Vết (1) là tổ hợp của vết trượt lốp màu đen trên mặt đường nối liền với vết cày đất ở lề đường và phần đất trống bên trái đường QL15B theo chiều mô tả. Vết (1) điểm đầu xuất hiện ở phần đường phía bên trái theo chiều mô tả và kết thúc tại bánh xe phía trước, bên trái xe ô tô BKS 37C-254.72. Vết trượt lốp màu đen chiều hướng từ xã T đến xã T, có chiều dài 9,8 mét, vết cày đất có chiều hướng cũng từ xã T đến xã T. Vết (1) có chiều dài là 36,4 mét, chiều rộng là 0,34 mét. Điểm đầu vết (1) cách mép đường chuẩn là 1,7 mét, điểm cuối vết (1) trùng với bánh xe phía trước, bên trái xe ô tô BKS 37C-254.72.
Từ điểm đầu vết (1) đo đến điểm đầu của vết cày xước trên mặt đường nhựa là 4,75 mét. Vết cày xước trên mặt đường nhựa có ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trường. Vết (2) có dạng đường thẳng, đứt quãng, màu trắng đục, chiều hướng từ xã T đến xã T; nằm trên vạch sơn kẻ phân chia phần đường ở giữa lòng đường và phần đường phía bên phải theo chiều mô tả, có kích thước (5,0x0,05)mét. Từ điểm đầu vết (2) đo vào mép đường chuẩn là 5,1 mét. Từ điểm cuối vết (2) đo đến mép đường chuẩn là 5,5 mét.
Từ điểm đầu vết (2) đo đến tâm trục bánh trước xe đạp nằm trên hiện trường là 4,9 mét. Xe đạp được ký hiệu số (3) trên sơ đồ hiện trường. Xe đạp (3) là loại xe cào cào, có màu sơn xám bạc, đã bị hư hỏng nặng. Xe (3) nằm ở giữa vạch sơn kẻ phân chia phần đường, phần bánh xe, thân xe nằm ở phần đường
3
bên phải; phần yên xe, tay lái nằm ở phần đường bên trái theo chiều mô tả. Xe (3) ngã nghiêng sang phải, đầu xe hướng về xã T, đuôi xe hướng về xã T. Từ tâm trục bánh trước xe (3) đo vào mép đường chuẩn là 5,7 mét; từ tâm trục bánh sau xe (3) đo vào mép đường chuẩn là 5,5 mét.
Từ tâm trục bánh sau xe (2) đo vào đầu tâm vết máu là 4,1 mét; vết máu được ký hiệu số (4) trên sơ đồ hiện trường. Vết (4) nằm giữa lòng đường, có màu đỏ, không rõ hình, tình trạng đã khô; có kích thước (0,6x0,2) mét. T3 vết (4) đo vào mép đường chuẩn là 5,15 mét.
Từ vết (4) đo đến điểm đầu của vết cày đất là 3,7 mét. Vết cày đất được ký hiệu là số (5) trên sơ đồ hiện trường. Vết (5) nằm trên lề đường đất bên trái và phần đất trống bên trái đường QL15B theo chiều mô tả; có dạng hình vòng cung, chiều hướng theo chiều mô tả, có kích thước (10x0,6) mét. Từ điểm đầu vết (5) đo vào mép đường chuẩn là 0,85 mét; điểm cuối vết (5) trùng với dàn bánh sau, bên trái xe ô tô BKS 37C – 254.72.
Từ điểm đầu vết (5) đo đến tâm trục dàn bánh xe phía sau, bên phải xe ô tô BKS 37C-254.72 là 14,7 mét, xe ô tô tải BKS 37C-254.72 được ký hiệu là số (6) trên sơ đồ hiện trường. Xe ô tô (6) là loại xe tải thùng kín, nhãn hiệu Hyundai, màu xanh. Xe ô tô (6) nằm trên phần đất trống và bờ mương sát ruộng lúa phía bên trái đường QL15B theo chiều mô tả. Đầu xe (6) hướng ra cánh đồng, đuôi xe (6) hướng vào mép đường chuẩn. Từ tâm trục bánh xe phía sau, bên phải xe (6) đo đến mép đường chuẩn là 5,4 mét; từ tâm trụ bánh xe phía trước, bên phải xe (6) đo đến mép đường chuẩn là 8,6 mét.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe ô tô BKS 37C-254.72: Cản trước bị bung rời chốt định vị, xô lệch theo chiều hướng từ dưới lên trên. Góc bên phải cản trước có dấu vết móp méo, chiều hướng từ trước ra sau. Góc bên phải cản trước có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng, dạng sơn, chiều hướng từ trái qua phải. Móc kéo cứu hộ phía trước ở góc bên phải có dấu vết trượt xước, móp lõm chiều hướng từ trước ra sau. Phần bên phải cản trước vị trí dưới móc cứu hộ có dấu vết trượt xước, chiều hướng từ trước ra sau. Phần bên phải ốp đầu xe có dấu vết trượt xước, móp lõm, bám dính chất màu đen, dạng nhựa, chiều hướng từ dưới lên trên, từ trái qua phải. Gương chiếu hậu bên phải gãy vỡ, bung rời, bề mặt có vết trượt xước, chiều hướng từ trước ra sau. T4 kim loại định vị gương bị cong vênh. Biển kiểm soát phía trước đầu xe bị cong vênh, móp lõm, chiều hướng từ trước ra sau.
Xe đạp (loại xe cào cào, không có nhãn hiệu, màu ghi xám): Đầu tay lái bên trai có dấu vết trượt xước, bám dính sơn màu xanh. Tay lái bị xô lệch từ sau ra trước, từ trái qua phải; Bánh trước bị bung rời hoàn toàn khỏi phương tiện; Mặt ngoài thanh kim loại cố định bánh trước bên trái có dấu vết trượt xước, mất sơn, chiều hướng từ trước ra sau, móp méo từ trái qua phải. Mặt bên trái giỏ xe phía trước bị móp méo, chiều hướng từ trái qua phải; Bàn đạp xe phía bên trái bị
4
xô lệch chiều hướng từ trái qua phải; T4 kim loại gắn định vị yên xe bị cong gập chiều hướng từ trái qua phải. T4 kim loại cố định bánh sau, bên trái có dấu vết trượt xước, mất sơn, chiều hướng từ sau ra trước. T4 kim loại thứ 2 (tính từ trên xuống) dàn đèo bên trái có dấu vết trượt xước. T4 kim loại định vị chắn bùn bên trái có dấu vết trượt xước. Mặt ngoài chân chống có dấu vết trượt xước. Mặt trái góc phía sau của chắn bùn bánh xe phía sau có dấu vết trượt xước. Vành bánh sau bị móp méo, biến dạng. Vành chắn bùn cong vênh, biến dạng.
* Kết quả giám định cơ học: Tại Bản kết luận giám định số 368/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Xe ô tô mang BKS 37C-254.72 và xe đạp có va chạm với nhau. Hai phương tiện va chạm vuông góc với nhau.
* Tại bản kết luận số 298/KL-KTHS ngày 26/01/2024, Phòng K Công an tỉnh H đã kết luận: Nguyên nhân chết của anh Hồ Văn H là do đa chấn thương. Trên cơ thể có các vết thương: Vùng chẩm - thái dương trái; vùng trán trái, ngay đường chân tóc trán. Đuôi lông mày trái có vết thương dài 2,5cm. Gò má trái, cách dưới đuôi mắt trái 3cm có đám xây xát da, trên nền xây xát có vết thương dài 1,8cm. Sống mũi có vết xây xát da. Vùng cằm bên trái cách dưới khóe miệng trái 2,5cm có vết thương dài 1,6cm. Gãy kín xương đòn trái. Vùng ngực trái, trên đường nách giữa cách dưới đình hõm nách trái 4cm có vết thương dài 2,2cm. Gãy kín cung trước xương sườn số 2, 3, 4, 5, 6 bên trái. Ngay núm vú trái có đám xây xát da không liên tục trên diện: 6cm x 3cm. Mu bàn tay hai bên có một số vết xây xát da nằm rải rác. Gối trái có một số vết xây xát da nằm rải rác. Mắt cá trong chân trái có đám xây xát da.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 22/KLĐG ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận giá trị thiệt hại của tài sản: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HYNDAI, BKS 37C-254.72: 11.597.000 đồng; 01 chiếc xe đạp, loại xe cào cào, không có nhãn hiệu, màu ghi xám: 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại: 12.097.000 đồng.
* Vật chứng, tài liệu thu giữ của vụ án gồm: 01 xe ô tô, nhãn hiệu HUYNDAI, biển kiểm soát: 37C-254.72, xe đã qua sử dụng, đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông và các Giấy tờ kèm theo như Giấy chứng nhận đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định;, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc; 01 chiếc xe đạp, loại xe cào cào, màu ghi xám, đã qua sử dụng, đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Phạm Phúc T;
Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại xe ô tô BKS 37C-254.72, kèm theo giấy tờ có liên quan nói trên cho Phạm Phúc T; Trả lại chiếc xe đạp nói trên cho đại điện hợp pháp của chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H1 (vợ anh Hồ Văn H).
Đối với giấy phép lái xe của Phạm Phúc T được chuyển theo hồ sơ vụ án.
5
- Về dân sự: Bị cáo Phạm Phúc T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Hồ Văn H số tiền là 250.000.000. Gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác, cam đoan sẽ không có bất kỳ khiếu kiện, khiếu nại gì khác đến cơ quan chức năng liên quan đến việc bồi thường dân sự nói trên.
- Với hành vi trên, tại cáo trạng số 52/CT-VKSTH, ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phạm Phúc Trình về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H2 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Phúc T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Phạm Phúc T. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên miễn xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
- Người diện hợp pháp của bị hại trình bày: Hậu quả tai nạn xảy ra là không ai mong muốn. Sau khi tai nạn xẩy ra, bị cáo và gia đình cũng đã thường xuyên thăm hỏi động viên. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
- Trình bày lời nói sau cùng bị cáo xin nhận lỗi về hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, được cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lại lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
6
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, tại Km 31+140 đường Q thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Phạm Phúc T điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 37C-254.72 chấp hành không nghiêm các quy định của Luật giao thông đường bộ, khi di chuyển qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nhưng không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn, điều khiển xe ô tô vượt xe không đúng quy định, không đảm bảo an toàn dẫn đến gây tai nạn giao thông với xe đạp do anh Hồ Văn H điều khiển. Hậu quả làm anh Hồ Văn H bị thương nặng dẫn đến tử vong, xe đạp bị hư hỏng trị giá 500.000 đồng.
Lỗi chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông nói trên là của bị cáo Phạm Phúc T, cụ thể: Vi phạm khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định về “Các hành vi nghiêm cấm”; Khoản 1 và điểm d, khoản 5, Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định về “Vượt xe”; Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Các trường hợp phải giảm tốc độ”. Ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển phương tiện xe đạp di chuyển ngược chiều, lấn ra phần đường dành cho xe cơ giới, không quan sát khi di chuyển ngược chiều ra gần giữa lòng đường.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị hại cũng có lỗi, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống mỹ hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần được xét xử nghiêm để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, do lỗi vô ý. Trước khi phạm tội bị cáo là công dân tốt, từ trước đến nay chưa có hành vi vi phạm gì. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhận thức lỗi lầm của mình, tích cực, tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của
7
người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo cải tạo tại địa phương thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, tạo điều kiện để bị cáo tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong về phần bồi thường thiệt hại, không còn yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với hư hỏng của phương tiện, chủ sở hữu không có yêu cầu gì, xin tự khắc phục sửa chữa nên HĐXX không xem xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp lái xe của bị cáo là nguồn sống chính trong gia đình. Vì vậy, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo và trả lại giấy phép lái xe hạng hạng C mang tên Phạm Phúc T cho bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng, giấy tờ: Trong quá trình điều tra, CQCSĐT Công an huyện T đã trả lại xe ô tô BKS 37C-254.72, kèm theo giấy tờ có liên quan nói trên cho Phạm Phúc T; Trả lại chiếc xe đạp nói trên cho đại điện hợp pháp của chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H1.
Việc trả lại các vật chứng này của Cơ quan cảnh sát điều tra là đúng quy định của pháp luật, chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.
Đối với Giấy phép lái xe hạng C, mang tên Phạm Phúc T, HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung cấm lái xe đối với bị cáo nên sau khi án có hiệu lực pháp luật cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ -
8
UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Phúc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Phúc T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/9/2024).
Giao bị cáo Phạm Phúc T cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng, giấy tờ: Trả lại Giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Phạm Phúc T cho bị cáo.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Phúc T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Huệ |
9
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vi phạm giao thông
