|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 50/2024/HS-ST
Ngày: 15-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Chí Thanh;
- Ông Nguyễn Đăng Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước đối với các bị cáo:
- Lê Ngọc N, sinh năm 1982 tại Tiền Giang;
Nơi đăng ký thường trú: Ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q, sinh năm: 1968 (Đã chết) và bà Ngô Thị X, sinh năm: 1956. Bị cáo có 01 con sinh năm 1998.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (Bị cáo có mặt).
- Nguyễn Văn T, sinh năm: 1990 tại Long An;
Nơi cư trú: Ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1954 (Đã chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1956. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 45 phút, ngày 28/3/2024, Công an xã P, huyện C tiến hành kiểm tra hộ bà Nguyễn Thị K tại ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Tại thời điểm kiểm tra, bên trong nhà có Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T đang ở trong phòng ngủ. Qua kiểm tra, phát hiện trong phòng ngủ, tại vị trí bên phải cửa ra vào có 06 đoạn ống nhựa nhiều kích cỡ, hàn kín, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy và 01 cân tiểu ly; tại vị trí trên nệm có 11 đoạn ống nhựa nhiều kích cỡ, được hàn kín, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy; tại vị trí bên trái cửa ra vào trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá cùng các đồ vật tài liệu liên quan; tại vị trí cạnh chỗ ngồi của Lê Ngọc N có 02 đoạn ống nhựa được hàn kín, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Qua làm việc, N và T khai nhận đó là chất ma túy của cả hai mua về để dành sử dụng nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong 19 đoạn ống nhựa chứa chất nghi là ma túy nêu trên gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 202/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận:
- Túi niêm phong mã số NS4A 159693: Tinh thể màu trắng đựng trong 06 đoạn ống nhựa hàn kín màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5101 gam, loại Methamphetamine.
- Túi niêm phong mã số NS4A 159694: Tinh thể màu trắng đựng trong 11 đoạn ống nhựa hàn kín màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,8148 gam, loại Methamphetamine.
- Túi niêm phong mã số NS4A 159695: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 đoạn ống nhựa hàn kín màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2111 gam, loại Methamphetamine.
H lại đối tượng giám định: mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,3987 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159693); 1,3789 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159694); 0,1327 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159695) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 202.
Quá trình điều tra, Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T khai nhận: Từ tháng 12/2023, N và T chung sống như vợ chồng tại nhà của T ở ấp G, xã P, huyện C, tại đây, cả hai nhiều lần sử dụng chung ma túy với nhau. Ngày 27/3/2024, N đưa cho T 1.000.000đ là tiền chung của cả hai để T mua ma túy về sử dụng chung. Sau đó, T đi đến khu vực xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người thanh niên không rõ lai lịch mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine rồi đem về nhà, N và T lấy một ít ma túy ra sử dụng. Đến khoảng 08 giờ ngày 28/3/2024, N và T lấy số ma túy còn lại phân chia vào nhiều đoạn ống nhựa, rồi hàn kín lại, cất giữ để dành sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, khi Công an vào kiểm tra thì N hoảng sợ nên dùng tay quơ lên bàn làm rơi 19 đoạn ống nhựa chứa chất ma túy tại nhiều vị trí trong phòng. Sau đó, Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản thu giữ số ma túy nêu trên.
Ngoài số ma túy thu giữ, Cơ quan CSĐT Công an huyện C còn tạm giữ 01 cân tiểu ly màu trắng, 01 điện thoại di động màu xanh - đen hiệu Oppo của Nguyễn Văn T; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 02 bật lửa, 01 cái kéo bằng kim loại, 01 điện thoại di động màu trắng - đen hiệu Redmi của Lê Ngọc N. Hiện, Cơ quan điều tra đã trả lại 02 điện thoại di động cho bị cáo N và bị cáo T.
Cáo trạng số 49/CT-VKSCĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước đã truy tố các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 17, 38, 50; 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt:
Bị cáo Lê Ngọc N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn T từ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo khó khăn về kinh tế, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,3987 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159693); 1,3789 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159694); 0,1327 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159695) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 202; 01 cân tiểu ly màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 02 bật lửa, 01 cái kéo bằng kim loại.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Các lời khai này phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 11 giờ 00 phút, ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Công an huyện C; phù hợp với Kết luận giám định số 202/KL-KTHS, ngày 04/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L; phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Do đó có đủ cơ sở xác định vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, tại nhà của bà Nguyễn Thị K tại ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An, các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T (Là cháu của bà K) có hành vi cất giấu 19 đoạn ống hút có chứa ma túy với khối lượng tổng cộng là 2,536 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy được quy định trong “Luật Phòng, chống ma túy”, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma túy là loại chất gây nghiện bị cấm sử dụng, chỉ được sử dụng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y khoa .... Ma túy không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ việc sử dụng ma tuý đã làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh HIV/AIDS. Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên các bị cáo phải biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị nghiêm cấm và sẽ bị xử lý theo pháp luật nhưng chỉ vì nghiện mà túy, các bị cáo đã bất chấp để thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy này nhằm để sử dụng trái phép.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, loại ma túy mà các bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng là 2.536 gam, tức trên 0,1 gam đến dưới 5 gam. Do đó hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nhình sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo, đề cao tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung. Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, cả hai bị cáo đều đưa ra đề xuất và cùng thống nhất thực hiện, không có sự phân công bàn bạc cụ thể, tiền dùng để mua ma túy cũng là tiền chung, khi phân chia ma túy thành các gói nhỏ để cất giấu thì cả hai cùng thực hiện; cả hai bị cáo đều có nhân thân và tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nhau. Do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo N và T là ngang nhau.
[7] Các bị cáo khó khăn về kinh tến nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng:
[8.1] Đối với 01 điện thoại di động màu xanh - đen hiệu Oppo của bị cáo T và 01 điện thoại di động màu trắng - đen hiệu Redmi của bị cáo N, Đây là tài sản của các bị cáo, không có căn cứ chứng minh các bị cáo sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên việc Cơ quan điều tra đã trả lại 02 điện thoại di động cho bị cáo N và bị cáo T là đúng quy định.
[8.2] Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3987 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159693); 1,3789 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159694); 0,1327 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159695) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 202. Đây là ma túy, là vật cấm sử dụng, tàng trữ, mua bán nên quyết định tịch thu, cho tiêu hủy.
[8.3] 01 cân tiểu ly màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 02 bật lửa, 01 cái kéo bằng kim loại. Đây là các công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
[9] Đối với người thanh niên T khai đã bán ma túy cho T ở khu vực huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không xác định được lai lịch cụ thể, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã thông báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để phối hợp điều tra xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.
[10] Buộc các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc N 02 (Hai) năm tù.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Ngọc N 45 ngày, kể từ ngày tuyên án 15/8/2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án 15/8/2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,3987 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159693); 1,3789 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159694); 0,1327 gam (túi niêm phong mã số NS4A 159695) và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 202; 01 cân tiểu ly màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 02 bật lửa, 01 cái kéo bằng kim loại.
(Các vật chứng này hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKSCĐ, ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Lê Ngọc N và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Quốc Dũng |
Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 50/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
