Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HSST.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Thái.
  2. Bà Nguyễn Thị Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đặng Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 43/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 24/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1987

    tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết); Con bà Đoàn Thị S, sinh năm 1959; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ Phùng Thị Kim A, sinh năm 1990; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
  2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966

    tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Con ông Nguyễn Văn Y (đã chết); Con bà Đỗ Thị B (đã chết); Bị cáo là con duy nhất; Vợ Đào Thị M, sinh năm 1967; Có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
  3. Vũ Xuân T2, sinh năm 1968

    tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 7/10; Con ông Vũ Văn C (đã chết); Con bà Đỗ Thị L (đã chết); Gia đình có 7 anh em, bị cáo là thứ 5; Vợ Vũ Thị O, sinh năm 1970; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 06-QĐ/UBKTHU ngày 12/7/2024 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy T6; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
  4. Đỗ Văn C1, sinh năm 1973

    tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Trú tại: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 7/12; Con ông Đỗ Thế Â, sinh năm 1947; Con bà Nguyễn Thị O1, sinh năm 1951; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ Nguyễn Thị T3, sinh năm 1974; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 162 ngày 08/9/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà đã xử phạt bị cáo C1 03 (ba) năm tù, về tội “Cướp tài sản của công dân”. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
  5. Đỗ Văn T4, sinh năm 1971

    tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Đỗ Văn L1 (đã chết); Con bà Nguyễn Thị Y1 (đã chết); Gia đình có 9 chị em, bị cáo là thứ 7; Vợ Vũ Thị H, sinh năm 1976; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/3/2024 Nguyễn Văn T, Đỗ Văn C1, Vũ Xuân T2, Đỗ Văn T4 và Nguyễn Văn Đ đến nhà ông Đỗ Văn Đ1, sinh năm 1972, ở thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định dự đám cưới. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, C1, Đ, T2, T, T4 và anh Vũ Văn G, sinh năm 1987 (trú tại thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định) ở lại để trông rạp đám cưới. Lúc này T nảy sinh ý định chơi đánh chắn ăn tiền nên rủ C1, Đ, T2 cùng chơi. C1, Đ, T2 đều đồng ý. Sau đó, T cùng C1, Đ, T2 đi vào từ đường họ Đỗ ngay cạnh nhà ông Đại để đánh bạc. Khi vào trong từ đường, thấy trên nền từ đường có trải sẵn chiếu và trên chiếu có 01 đĩa sứ, 02 bộ bài chắn màu xanh và màu trắng, cả nhóm cùng ngồi xuống chiếu đánh chắn ăn tiền.

Hình thức đánh chắn ăn tiền được quy định như sau: Người chơi sử dụng bộ bài chắn 100 quân, gồm: 4 quân “chi chi” màu đỏ, 96 quân, gọi theo thứ tự là nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu; mỗi hàng nhị, tam, tư, ngũ, lục, thất, bát, cửu có 12, chia làm ba loại gọi là văn, vạn, sách, mỗi loại có 04 quân (hàng cửu và bát có 8 quân đỏ và 04 quân màu đen). Người chơi chia bộ bài thành 5 phần mỗi phần gồm 19 quân, còn dư lại 5 quân bài. Người chơi lấy 5 quân bài lẻ này kết hợp với một phần bài bất kỳ để thành bài “gọi là bài nọc”. Sau đó, người chơi tiến hành bốc cái để xác định ai là người đánh đầu tiên và ai được phần bài nào bằng cách rút một quân ngẫu nhiên trong bài nọc, lật quân bài lên vào một phần bài bất kỳ trong 4 phần bài còn lại và cấu thành một bài cái (bài cho người đánh đầu tiên) gồm 20 quân. Người chơi xếp bài phải cấu thành nên các dạng bao gồm: “chắn” là 2 quân bài giống hệt nhau, “cạ” là 2 quân bài giống nhau về số nhưng khác về chất, “ba đầu” là 2 quân bài cùng số, khác chất và những quân bài lẻ không thể kết hợp được gọi là “què”. Khi đánh mỗi người chơi sẽ cầm trên tay 19 quân bài, riêng người cái có 20 quân là người đánh quân bài đầu tiên. Khi người “cái” đánh ra một quân bài nếu người tiếp theo nếu ăn được thì thu về và đánh cho người sau một quân nếu không ăn được thì bốc một quân bài dưới “nọc”, nêu ăn được thì người này đánh ra một quân cho người sau, người tiếp theo cung thực hiện việc đánh như người trước cho đến kết thúc. Quá trình chơi bài những người chơi luôn duy trì bài của mình đủ 19 quân cho đến lúc ù; Tức là khi 19 quân bài của mỗi người hợp với quân bốc “nọc” tạo thành 10 tổ hợp chắn và cạ trong đó có 6 chắn trở lên là bài được ù. Về hình thức “ù” được quy định như sau: “ù xuông” (khi trên bài có ít nhất 6 chắn và 4 cạ), “ù tôm” (khi trên bài có 3 quân tam vạn, tam sách và thất văn), “ù lèo” (khi trên bài có 3 quân cửu vạn, bát sách, chi chi), “ù bạch định” (khi trên bài các quân bài toàn bộ là quân đen), “ù chi” (khi lật bài lên quân chi chi trùng với quân chi chi còn lẻ trên bài của mình).Về mức cược cho mỗi loài “ù” do những người chơi tự quy định.

Trong vụ án này các bị cáo T, C1, Đ, T2 quy định về mức ù như sau: Ù xuông là 20.000đ, ù tôm là 30.000đ, ù lèo là 50.000đ, ù bạch định là 50.000đ, ù chi là 60.000đ.

Khi cả nhóm đang đánh bạc, có T4 và G vào ngồi xem. Sau đó cả nhóm thống nhất để cho T4 chia bài và quy định nếu người nào ù bạch định hoặc ù chi sẽ trích ra 10.000 đồng, ù trì bạch thủ chi sẽ trích ra 20.000 đồng để trả công chia bài cho T4. Khi chơi T có 2.000.000 đồng, C1 có 3.000.000 đồng, T2 có 700.000 đồng, Đ có 1.200.000 đồng, để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Đến khoảng 00 giờ ngày 21/3/2024, khi cả nhóm đang đánh chắn ăn tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ trên chiếu bạc: 01 bộ bài chắn màu xanh 100 quân bài đã qua sử dụng; 01 bộ bài chắn màu trắng 100 quân bài đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng; Thu giữ 6.920.000 đồng, gồm: thu của T 2.550.000 đồng, C1 2.590.000 đồng, T2 810.000 đồng, Đ 400.000 đồng và 570.000 đồng ở trên chiếu là tiền trả công chia bài cho T4.

- Thu giữ trên người T4 số tiền 800.000 đồng.

Quá trình điều tra: Cơ quan CSĐT xác định Đỗ Văn T4 không sử dụng số tiền 800.000 đồng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại cho T4.

Tại cơ quan điều tra: Các bị cáo Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Vũ Xuân T2, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nhận xét trên.

Bản cáo trạng số: 40/CT-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Vũ Xuân T2, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn T4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên toà:

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nhận xét trên và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS: Đề nghị xử phạt Đỗ Văn C1 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ).

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS:

Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn T từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ).

Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ).

Đề nghị xử phạt Đỗ Văn T4 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ).

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn C1, Đỗ Văn T4 được tính từ ngày cơ quan giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 BLHS:

Đề nghị xử phạt Vũ Xuân T2 từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024).

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo T, C1, Đạt T5.

+ Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 điều 106 BLTTHS: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài chắn màu xanh 100 quân bài; 01 bộ bài chắn màu trắng 100 quân bài; 01 đĩa sứ màu trắng. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.920.000 đồng các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

+ Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội: Ttuyên buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT; VKSND huyện Trực Ninh; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 00 giờ ngày 21/3/2024, Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Vũ Xuân T2, Nguyễn Văn T và Đỗ Văn T4 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh chắn ăn tiền tại từ đường họ Đỗ ở thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định bị Công an phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 6.920.000 đồng. Hành vi đánh bạc ăn tiền của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với các bị cáo.

[3] Về vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn với vai trò như nhau. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi xướng, trực tiếp tham gia đánh bạc. Các bị cáo Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Vũ Xuân T2 trực tiếp đánh bạc. Bị cáo Đỗ Văn T4 có hành vi chia bài giúp cho các bị cáo khác đánh bạc.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

4.1. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Vũ Xuân T2, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn T4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo đều là lao động chính và có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo T và bị cáo T2 có con còn nhỏ, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (trừ bị cáo C1); thực hiện hành vi phạm tội do bột phát khi đến tham dự đám cưới; Số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn; Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, về hình phạt xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo các bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Đối với ông Đỗ Văn Đ1 là người quản lý từ đường họ Đỗ, tuy nhiên ông Đ1 không biết việc các bị cáo đánh bạc ở từ đường họ Đỗ, không được hưởng lợi từ việc đánh bạc của các bị cáo. Đối với anh Vũ Văn G có ngồi xem đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc, vì vậy ông Đ1 và anh G không phạm tội.

[8] Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài chắn màu xanh 100 quân bài; 01 bộ bài chắn màu trắng 100 quân bài; 01 đĩa sứ màu trắng. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.920.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Vũ Xuân T2, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. 1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS (không áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo C1)

    • - Xử phạt Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
    • - Xử phạt Đỗ Văn C1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
    • - Xử phạt Nguyễn Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
    • - Xử phạt Đỗ Văn T4 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024 (một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án.

    Giao các bị cáo Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn T4 cho chính quyền địa phương xã L, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

  3. 1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 BLHS: Xử phạt Vũ Xuân T2 20 (hai mươi) triệu đồng (bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 23/3/2024)
  4. Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn T4.
  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

    • - Tịch thu tiêu hủy huỷ 01 bộ bài chắn màu xanh 100 quân bài; 01 bộ bài chắn màu trắng 100 quân bài; 01 đĩa sứ màu trắng (vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 51/THA ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.920.000 đồng (sáu triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. (số tiền này đã được Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định vào ngày 21/6/2024).
  6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Các bị cáo Đỗ Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Vũ Xuân T2, Nguyễn Văn T và Đỗ Văn T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Công an huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Bùi Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HSST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về đánh bạc

  • Số bản án: 50/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger