Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 50/2024/HS-PT

Ngày: 14- 8- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Thắng và bà Nguyễn Thuý Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hảo- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và tại điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến- Trại tạm giam Công an tỉnh Q, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn T do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2024/HS-ST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Bùi Văn T, sinh ngày 31/12/1991, tại T, Hải Phòng; nơi thường trú: thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở trước khi bị bắt: tổ A, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 và con bà Nguyễn Thị H; vợ: không có; có 01 con sinh năm 2018; tiền sự: không có.

Tiền án: ngày 25/01/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”. Ngày 28/4/2023, chấp hành xong toàn bộ bản án.

Nhân thân:

  • Ngày 25/8/2009, Toà án nhân dân TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “cướp tài sản”. Ngày 09/01/2016, chấp hành xong toàn bộ bản án.
  • Ngày 25/7/2018, Ủy ban nhân dân thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “xâm hại sức khỏe của người khác”. Nộp phạt ngày 16/8/2018.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 16/12/2023, T2 và vợ là Trần Thị Quỳnh T3 tổ chức kỷ niệm ngày cưới tại nhà hàng B thuộc phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. T2 mời bạn gồm: Nguyễn Duy A, Nguyễn Thị L, Đỗ Đại, (trú tại thành phố Hà Nội); Trần Hoài N, Nguyễn Thị Hải Y (trú tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh); Nguyễn Thanh T4, Ngô Thị Thanh H1 (trú tại tỉnh Thái Bình), Nguyễn Sơn N1, Bùi Cúc N2, Bùi Văn T, Phùng Thị Lệ T5; Nguyễn Thế S, Trần Thị Đ; Phạm Văn T6 (trú tại thành phố H). Duy A rủ thêm Phạm Văn A1, T4 rủ thêm Hoàng Trọng T7, Lại Minh T8. T2 thuê tầng 6 khách sạn B1 ở tổ C, khu C, phường H, thành phố H để cả nhóm nghỉ qua đêm khi ăn liên hoan xong. Khi được T2 mời thì Bùi Văn T, Nguyễn Sơn N1 biết T2 có sử dụng ma túy mời khách nên T bảo với T2 để T chuẩn bị ma túy, còn Nguyễn Sơn N1 nói cho T2 02 túi ma túy “nước vui” để mời khách.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, cả nhóm đến nhà hàng B ở phường H, thành phố H ăn tối. Khi gặp nhau ở thang máy tầng 1 nhà hàng B, Nguyễn Sơn N1 đưa cho T2 02 túi ma túy “nước vui". Trong lúc ăn, T2 vào nhà vệ sinh và đưa cho T 02 túi ma túy “nước vui” của N1, mục đích sau khi ăn tối xong sẽ pha mời mọi người trong nhóm sử dụng, T cầm 02 túi ma túy, đồng thời bỏ ra 04 túi ma túy “nước vui” và 02 túi ma túy ketamine của T mang đi cho T2 xem. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm ăn xong, T2 rủ cả nhóm tiếp tục đi quán bar L2 ở phường Y, thành phố H để nghe nhạc, Hoàng Trọng T7 do say rượu nên không đi, H2 và L về khách sạn B1 thay đồ, những người còn lại đến quán nước của chị Nguyễn Thị L1 ở tổ C, khu C, phường H, thành phố H ngồi đợi L và H2. Tại đây, Bùi Văn T đưa cho Nguyễn Thế S 02 túi ma túy “nước vui” của N1 và bảo S pha mời cả nhóm sử dụng trước khi vào quán bar N3, S đồng ý. Sau đó, T2 gọi ở quán C nước bò húc để S pha ma túy “nước vui” vào ca nhựa, rồi S rót ra từng chén mời Nguyễn Sơn N1, T2, Đ1, Bùi Văn T, A1, Đ, Duy A, T6, T8, T3, Y sử dụng, xong đến S sử dụng, còn H1, T4, H, N2, L, T5 không sử dụng. Sau đó, cả nhóm đi đến quán bar L2.

Khoảng 01 giờ ngày 17/12/2023, cả nhóm từ quán bar L2 lounge về. Khi về đến khách sạn, Phùng Thị Lệ T5 về phòng 609 ngủ, T3, L, H2, H1 ở phòng 608, Y về phòng 603. Còn T2 và Bùi Văn T cầm theo loa, máy tính laptop, đèn nháy, bàn DJ của T2 và rủ S, T4, Hoàng Trọng T7, T8, Đ1, A1, T6, Đ, Y, Trần Hoài N, Nguyễn Sơn N1, N2 vào phòng 601 để tiếp tục sử dụng ma túy. Tại đây, Bùi Văn T bỏ 03 túi ma túy nước vui và 01 túi ma túy Ketamine cầm theo ra để lên bàn trong phòng cho cả nhóm sử dụng, còn lại 01 túi ma túy “nước vui” và 01 túi ma túy Ketamine, T cất ở trong túi quần bên phải. S và T2 lắp đặt đèn, loa kết nối với máy tính và bàn DJ để nghe nhạc, do đèn nháy T2 cầm đến bị hỏng nên S tiếp tục thuê đèn nháy của một người không quen biết qua mạng xã hội. Sau đó, S lấy 01 lon nước bò húc đổ vào bình siêu tốc trong phòng, đun sôi, pha với 03 túi ma túy “nước vui” của T bỏ ra. Xong, S rót ra cốc mời Nguyễn Sơn N1 nhưng N1 không dùng nên S mời Duy A, Đ, A1, Hoàng Trọng T7, T6, Đ1, H, T4. Tiếp đó, T7 lấy túi ma túy Ketamine đổ một ít ra đĩa sứ có trong phòng, dùng thẻ nhựa đánh nhuyễn, rồi để đĩa Ketamine trên bàn cho mọi người sử dụng, còn

S xuống tầng 01 khách sạn hỏi mượn nhân viên lễ tân của khách sạn thêm 01 đĩa sứ. Sau đó, S cầm đĩa lên, đồ hết số ma túy Ketamine còn lại lên đĩa sứ và dùng thẻ nhựa xào nhuyễn. Xong, S lấy tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 200.000 đồng của S cuộn thành ống hút, S tự dùng ma túy Ketamine trước rồi mời Nguyễn Sơn N1, Đ1, A1, Hoàng Trọng T7, T8, Duy A, Đ, T6, T4, Hoài N mọi người đều cầm ống hút và hít ketamine qua đường mũi. Tiếp đó, Bùi Văn T lấy đĩa ma túy Ketamine đã xào trước đó, dùng ống hút của S tự sử dụng 02 đường ma túy Ketamine, rồi bê đĩa ma túy chứa Ketamine mời Đ1 sử dụng. Còn T2 tự lấy ma túy “nước vui” và ma túy Ketamine sử dụng, xong T2 lấy một ít ma túy Ketamine trên đĩa sứ cho vào tờ tiền 5.000 đồng của T2 rồi gấp lại, mục đích khi mọi người trong phòng sử dụng hết số ma túy Ketamine trên đĩa sứ thì T2 tiếp tục lấy số ma túy này mời mọi người sử dụng. Sau đó, T2, Bùi Văn T, T6, A1, Y sang phòng 608 chơi. Còn N và N2 về trước. Đến 02 giờ 45 phút ngày 17/12/2023, Công an thành phố H kiểm tra khách sạn B1 phát hiện sự việc. Kiểm tra phòng 601 có 08 người gồm: Trần Hoài N, Nguyễn Duy A, Trần Thị Đ, Lại Minh T8, Đỗ Đ2, Nguyễn Thanh T4, Hoàng Trọng T7, Nguyễn Thế S; phòng 608 có 09 người gồm Phạm Văn T6, Phạm Văn A1, Bùi Văn T, Dương Trung T9, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị Hải Y, Ngô Thị Thanh H1, Nguyễn Thị L, Trần Thị Quỳnh T3; khi thấy Công an đến kiểm tra, T9 đã vất tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng chứa ma túy xuống đất; tại phòng 609 có Phùng Thị Lệ T5. Vật chứng thu giữ:

- Tại phòng 601: trên kệ gỗ trước gương 01 đĩa sứ (đĩa thứ nhất), trên đĩa có chất bột màu trắng (kí hiệu M5); 01 thẻ nhựa, 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền 200.000 đồng, 01 đĩa sứ (đĩa thứ hai), trên đĩa có chất bột màu trắng (kí hiệu M6), 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 100.000 đồng. Trên kệ gỗ dưới tivi treo tường: 01 đèn nháy màu đen, 01 bàn đánh nhạc DJ; 01 máy tính laptop màu đen; 01 loa. Dưới kệ gỗ: 01 cốc sứ, bên trong có chất lòng màu vàng (kí hiệu M1); 02 vỏ lon bò húc; 01 ấm điện siêu tốc bên trong có chất lòng màu vàng (kí hiệu M2) và 01 vỏ gói nilon màu đen hở hai đầu. Trên kệ gỗ ở giữa hai giường 01 đèn quay màu đen. Trong thùng rác ở góc phòng 01 vỏ gói nilon màu vàng. Trên bàn chỗ Trần Hoài N và Nguyễn Duy A ngồi có 01 cốc sứ màu trắng chứa chất lòng màu vàng (kí hiệu M3). Dưới gầm bàn 01 máy tính laptop màu bạc. Tại nền nhà có 01 cốc sứ màu trắng có quai, bên trong có chất lòng màu vàng (kí hiệu M4) và 01 vỏ gói nilon màu vàng.

- Tại phòng 608: trong túi quần phía trước bên phải Bùi Văn T đang mặc có 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M7) và 01 gói nilon màu xanh trắng có chữ Crispy fruit được hàn kín, sờ nắn bên trong có chất bột mềm (kí hiệu M8). Tại nền nhà nơi Phạm Văn A1 ngồi có 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp lại, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M9).

Khám xét khẩn cấp nơi ở của T9 ở tổ A, khu G, phường C, thành phố H thu giữ: trong két sắt tầng 1 có 02 túi nilon, mỗi túi chứa 01 viên nén màu xám (kí hiệu M10, M11); 01 bộ sử dụng ma túy; 01 hộp giấy màu vàng cam, bên trong có 01 túi nilon chứa thực vật khô (kí hiệu M12); 01 đoạn ống hút nhựa. T10 tại phòng ngủ tầng 2 của Nguyễn Lê K: tại ngăn bàn 01 hộp kim loại màu trắng bạc, bên trong có 01 túi nilon chứa thực vật khô (kí hiệu M13), thu trong loa màu đen 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M15); 01 túi nilon chứa thực vật khô (kí hiệu M14).

Ngày 17/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Dương Trung T9, Bùi Văn T, Nguyễn Thế S, Nguyễn Sơn N1, Nguyễn Lê K.

Tại Bản kết luận giám định số 1847 ngày 28/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết quả giám định ma túy trong 20 mẫu nước tiểu như sau: có chất ma túy, sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy tìm thấy trong nước tiểu của Trần Hoài N, Nguyễn Duy A, Trần Thị Đ, Đỗ Đ2, Nguyễn Thanh T4, Hoàng Trọng T7, Phạm Văn T6, Nguyễn Sơn N1: MDMA và Ketamine; Lại Minh T8: Methamphetamine và MDMA; Bùi Văn T, Dương Trung T9, Nguyễn Thế S: Methamphetamine, MDMA và Ketamine; Phạm Văn A1: Methamphetamine, MDMA và Dehydronorketamine; Trần Thị Quỳnh T3: MDMA. Không tìm thấy chất ma túy thường gặp và sản phẩm chuyển hóa trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị Hải Y, Ngô Thị Thanh H1, Nguyễn Thị L, Phùng Thị Lệ T5, Bùi Cúc N2. Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của Ketamine trong nước tiểu.

Tại Bản kết luận giám định số 1811 ngày 26/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:

  • Mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M4 gửi giám định có thể tích: M1: 05 ml (năm mililit); M2: 10 ml (mười mililit); M3: 03 ml (ba mililit); M4: 06 ml (sáu mililit), tìm thấy chất ma túy MDMA trong mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M4 gửi giám định.
  • Mẫu vật kí hiệu từ M5 đến M7, M9 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng: M5: 0,554 gam; M6: 0,613 gam; M7: 0,169 gam; M9: 0,247 gam.
  • Mẫu vật kí hiệu M8 gửi giám định có khối lượng 5,096 gam (năm phẩy không chín sáu gam), tìm thấy chất ma túy methamphetamine, MDMA, Nimetazepam trong mẫu vật kí hiệu M8 gửi giám định.
  • Mẫu vật kí hiệu M10, M11 gửi giám định là ma túy; loại: MDMA, khối lượng: M10: 0,489 gam (không phẩy bốn tám chín gam); M11: 0,475 gam (không phẩy bốn bảy lăm gam).
  • Mẫu vật kí hiệu M12, M13, M14 gửi giám định là ma túy; loại cần sa, khối lượng: M12: 5,709 gam; M13: 0,498 gam; M14: 0,384 gam.
  • Mẫu vật kí hiệu M15 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine khối lượng 5,033 gam (năm phẩy không ba ba gam).

Tại Bản kết luận giám định số 243 ngày 18/01/2024 của V - Bộ C1 kết luận mẫu vật kí hiệu M8 thu giữ của Bùi Văn T gửi giám định: hàm lượng Methamphetamine, MDMA và Nimetazepam trong chất bột màu hồng nhạt gửi giám định lần lượt là: 0,3%, 10% và 0,5%. Khối lượng Methamphetamine, MDMA và Nimetazepam trong 4,89 gam mẫu gửi giám định lần lượt là: 0,01 gam; 0,48gam và 0,02 gam.

Quá trình điều tra, bị cáo khai Bùi Văn T khai về nguồn gốc ma tuý như sau: số ma túy Bùi Văn T cầm đến là mua của người đàn ông không quen biết tại Hải Phòng, số ma túy thu giữ trong túi quần bên phải của T, mục đích cho mọi người sử dụng tiếp nếu hết số ma túy đã bỏ ra.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2024/HS-ST ngày 06/6/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”); Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày bắt 17/12/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/6/2024 bị cáo Bùi Văn T làm đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh: “tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo vì Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử bị cáo về tội danh: “tàng trữ trái phép chất ma túy” là không đúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh “tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đông xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Văn T khai nhận hành vi phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu; bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng, không oan; về tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo cho rằng: số ma tuý bị cáo cất giấu trong người bị thu giữ là mục đích để cho mọi người cùng sử dụng sau khi đã dùng hết số ma túy bị cáo đã bỏ ra trước đó, nên bị cáo không phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, mà thu hút vào tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai của bị cáo T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý phù hợp với các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án, vì vậy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Bùi Văn T: Hội đồng xét xử xét thấy, việc bị cáo T cho rằng số ma túy thu giữ trong túi quần bên phải của T, mục đích T tàng trữ để cho mọi người sử dụng tiếp nếu hết số ma túy đã bỏ ra trước đó nên bị cáo không phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, mà thu hút vào tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, là không được chấp nhận, bởi lẽ tại phòng 601 bị cáo T bỏ 03 túi ma túy nước vui và 01 túi ma túy Ketamine trong người ra để lên bàn trong phòng cho cả nhóm sử dụng, sau khi sử dụng thì Bùi Văn T, T9, T6, A1 và Y sang phòng 608 chơi, tại đây không ai còn tiếp tục sử dụng ma tuý nữa. Như vậy nghĩa là Bùi Văn T, T9, T6, A1 và Y đã kết thúc sử dụng ma tuý tại phòng 601, do đó số ma tuý bị thu giữ trong người bị cáo T tại phòng 608 không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo cùng đồng phạm tại phòng 601, vì vậy hành vi cất giữ số ma tuý trong người bị thu giữ tại phòng 608 của T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó đủ cơ sở khẳng định Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn T về tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc cho rằng bị cáo không phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[3] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2024/HS-ST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Căn cứ: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với tội “tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày bắt 17/12/2023.

  3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

    Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CA, VKS, TAND, Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 50/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Bùi Văn Tuấn 18 (mười tám) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày bắt 17/12/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger