Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 - 5 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Điền

Ông Nguyễn Văn Chiến

Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông La Minh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐ - HPT giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình Duy T, sinh năm 1969.

Địa chỉ: 2, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Doan Daisy C, sinh năm 1972.

Địa chỉ: I Six Forks R R, NC B, U.S.A.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Đình Duy T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Doan Daisy C quen biết và tự nguyện tìm hiểu nhau. Đến năm 2017 thì ông và bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2017, ngày 30/3/2017. Sau khi đăng ký kết hôn, bà C1 trở về Hoa Kỳ tiếp tục sinh sống, làm việc. Thời gian đầu vợ chồng thương xuyên liên hệ, chung sống hạnh phúc. Lâu dần mâu thuẫn liên tiếp xảy ra, nguyên nhân chủ yếu là do khoảng cách địa lý, tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng gay gắt và từ đó vợ chồng không còn tình cảm với nhau.

Ông bà đã tìm cách khắc phục tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân nhưng không thành, nay ông cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa ông bà không còn tình cảm, vì vậy, ông làm đơn ly hôn, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho ông được ly hôn với bà Doan Daisy C để chấm dứt tình trạng hôn nhân hiện nay.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn bà Doan Daisy C đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo thủ tục tố tụng của P, nhưng bà vắng mặt không lý do và không có lời khai.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà C tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2017 ngày 30/3/2017 nên là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của ông T thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được một thời thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do khoảng cách địa lý, tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra xung đột và ngày càng gay gắt. Vợ ông sinh sống và làm việc ở Hoa Kỳ, ông không muốn sang Hoa Kỳ sinh sống, cũng chính từ đó vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa. Trước đó ông bà đã tìm cách khắc phục tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân nhưng kết quả không thành. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa ông bà đã không còn tình cảm, không còn sự quan tâm yêu thương nhau nữa, vì vậy ông làm đơn ly hôn.

Xét lời khai của ông T nhận thấy ông T và bà C quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, ông bà cũng đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả. Bà C sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ, ông T ở lại Việt Nam. Bà C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có lời khai, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, qua đó cho thấy khả năng hàn gắn, đoàn tụ của ông T và bà C là không có, mục đích hôn nhân không đạt, do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

+ Con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Đình Duy T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Ông T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1 Ông Nguyễn Đình Duy T khởi kiện xin ly hôn bà Doan Daisy C, bà C hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a và điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Bà Doan Daisy C đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà không đến Tòa làm việc cũng như tham dự phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà theo quy định tại khoản 1 Điều 238, khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà C xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2017 ngày 30/3/2017 là hôn nhân hợp pháp nên ông T được quyền xin ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo ông T trình bày ông và bà Doan Daisy C quen biết và tự nguyện tìm hiểu nhau. Đến năm 2017 thì ông và bà đăng ký kết hôn. Sau khi đăng ký kết hôn, hai vợ chồng sinh sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do khoảng cách về địa lý, tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và ngày càng gay gắt. Bà C sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ, ông không muốn sang Hoa Kỳ sinh sống, từ đó vợ chồng không còn tình cảm với nhau.

Ông bà đã tìm cách khắc phục tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân nhưng không thành, nay ông cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông làm đơn ly hôn, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho ông được ly hôn với bà Doan Daisy C.

Xét thấy, ông T, bà C sống xa cách nhau về vị trí địa lý nên cuộc sống hôn nhân không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Qúa trình Tòa án giải quyết đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà C nhưng bà không đến Tòa án làm việc cũng như không có lời trình bày, thể hiện bà bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình, không có ý muốn hàn gắn đoàn tụ. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T, cho ông Nguyễn Đình Duy T được ly hôn với bà Doan Daisy C.

[2.2] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà C không có lời trình bày do đó Tòa án không đặt ra giải quyết.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Đình Duy T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 37, 147, 227, 228, 238, 469, 470, 474, 477 và 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 123, 124 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Đình Duy T đối với bà Doan Daisy C.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đình Duy T được ly hôn với bà Doan Daisy C.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Đình Duy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000922 ngày 21/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Ông T đã nộp xong án phí.

3. Ông Nguyễn Đình Duy T được quyền kháng cáo trong hạn mười lăm (15) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Bà Doan Daisy C được quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND thành phố Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn; không con chung, tài sản và nợ chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger