|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 – 5 - 2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền;
Bà Nguyễn Thị Thêu
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1995; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện anh V đang lao động tại Hàn Quốc.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 28/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chỉ chung sống hơn một năm rồi anh V đi lao động tại Hàn Quốc. Từ khi anh V đi lao động Hàn Quốc vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Từ khi anh V đi Hàn Quốc vợ chồng chị hầu như không liên lạc và anh V không về Việt Nam. Nay chị H xác định vợ chồng chị sống ly thân đã lâu, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.
+ Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 01/01/2019. Hiện nay chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh V lao động ở nước ngoài không quan tâm đến con chung và cũng không thể trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đề nghị Toà án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn V vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án tiến hành thu thập lời khai của ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ của anh V), ông N trình bày: Chị H và anh V đăng ký kết hôn từ năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Năm 2019 do kinh tế khó khăn nên anh V đi lao động tại Hàn Quốc. Từ khi anh V đi Hàn Quốc, vợ chồng anh V xảy ra nhiều mâu thuẫn, gia đình hai bên đã hoà giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn, chị H vẫn bỏ đi sinh sống ở Hải Phòng, không liên hệ với gia đình ông N. Ông N nhận được thông báo thụ lý vụ án của Toà án và đã thông báo cho anh V, anh V biết việc Toà án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị H và anh V nhưng do công việc bận mải nên anh V không về làm việc được và có nhờ ông N thông báo với Toà án về việc anh V đồng ý ly hôn chị H. Về con chung, chị H và anh V có 01 con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 01/01/2019, hiện nay chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng, đề nghị Toà án tiếp tục giao cháu H1 cho chị H nuôi dưỡng. Ông N trình bày chị H và anh V không có tài sản chung, không có nợ chung, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện VKSND tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Hiện tại anh Nguyễn Văn V đang lao động ở Hàn Quốc nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
[1.2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn V nhưng anh V không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến; chị H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh V là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quan hệ hôn nhân của chị H và anh V không hạnh phúc được chứng minh qua lời khai của chị H và lời khai của ông N (bố đẻ của anh V). Việc chị H không liên lạc với anh V và gia đình anh V thể hiện anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng. Khi chị H xin ly hôn, anh V biết nhưng không muốn hàn gắn mà nhờ bố mẹ đẻ anh V tác động để giải quyết vụ án ly hôn chứng tỏ cả hai anh chị không muốn duy trì hôn nhân nữa. Như vậy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị H ly hôn anh V là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh V có 01 con chung Nguyễn Quang H1, sinh ngày 01/01/2019, hiện nay đang do chị H nuôi dưỡng. Xét thấy cháu H1 còn nhỏ đang sinh sống ổn định cùng chị H, anh V đang lao động ở nước ngoài không thể trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bố mẹ anh V cũng đề nghị Toà án giao con chung của chị H và anh V cho chị H nuôi dưỡng nên cần giao con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung; anh V vắng mặt, không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không giải quyết về quan hệ tài sản trong vụ án này.
[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh V có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quang H1, sinh ngày 01/01/2019. Anh Nguyễn Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị H nộp tại biên lai số 0000103 ngày 04/3/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự. Chị Đặng Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Anh Nguyễn Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
