Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hai
  2. Bà Cao Thị Diệu Hiền

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 73/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1975.
  2. Địa chỉ: Số C, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ.

  3. Bị đơn: Anh Bùi Ngọc H1, sinh năm 1970.
  4. Nơi cư trú cuối cùng: Số C, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ. Đã bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc tuyên bố mất tích theo Quyết định số: 05/2024/QÐST-VDS ngày 07/3/2024.

Tại phiên tòa, chị H có mặt. Anh H1 đã mất tích.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Trần Thị Tuyết H trình bày:

Chị H và anh H1 quen biết, tìm hiểu nhau khoảng gần 01 năm thì tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 27/02/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố S.

Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với bên gia đình chị H và chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn rồi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do: tính tình không hợp nhau, bất đồng nhiều quan điểm sống nên thường xuyên gây gổ làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng. Từ năm 2003, vợ chồng tự thỏa thuận ly hôn nhưng không ra Tòa làm thủ tục nên không có bản án hay quyết định gì của Tòa án giải quyết. Sau đó, anh H1 bỏ đi nơi khác và mất liên lạc cho đến nay.

Ngày 27/6/2023, chị H nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Bùi Ngọc H1 mất tích và được Tòa án giải quyết tuyên bố anh H1 mất tích bằng quyết định sơ thẩm số 05/2024/QÐST-VDS ngày 07/3/2024.

Vì vậy, chị H yêu cầu ly hôn anh Bùi Ngọc H1.

Về con chung:

Chị H và anh H1 chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Thiện Â, sinh ngày 27/11/2001. Hiện, con đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Ngoài ra, chị H không còn yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì và cũng không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Bùi Ngọc H1 đã mất tích nên Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Tuyết H và anh Bùi Ngọc H1; về con chung - đã thành niên nên không giải quyết; về tài sản chung, nợ chung - không xem xét giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn), giải quyết theo quy định của pháp luật (có bài phát biểu kiểm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn và bị đơn đơn có nơi cứ trú cuối cùng tại số nhà C, Khóm A, Phường D, thành phố S; xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Tại phiên tòa, bị đơn - anh Bùi Ngọc H1 vắng mặt và bị tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2024/QÐST-VDS ngày 07/3/2024 đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Tuyết H về việc yêu cầu ly hôn anh Bùi Ngọc H1, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị Tuyết H và anh Bùi Ngọc H1 tự nguyện chung sống vợ chồng, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 27/02/2002 tại Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố S nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xuyên gây gổ, làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Từ năm 2003, vợ chồng tự thỏa thuận ly hôn nhưng không ra Tòa làm thủ tục nên không có bản án hay quyết định gì của Tòa án giải quyết. Sau đó, anh H1 bỏ đi nơi khác và mất liên lạc cho đến nay. Căn cứ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2024/QÐST-VDS ngày 07/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên bố anh Bùi Ngọc H1 mất tích và từ thời điểm đó cho đến nay, anh H1 cũng không trở về. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau; tuy nhiên, việc anh H1 không liên lạc, không đến thăm con trong khoảng thời gian dài chứng tỏ anh H1 không có ý muốn hàn gắn, đoàn tụ tiếp tục chung sống vợ chồng với chị H. Mặt khác, chị H cũng đã tích cực tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực anh H1 còn sống hay đã chết.

Tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

Đồng thời, khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”.

Từ quy định đã viện dẫn, xét thấy việc chị H yêu cầu ly hôn anh H1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về nuôi con chung:

Chị H và anh H1 chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Thiện Â, sinh ngày 27/11/2001. Hiện, con đã thành niên nên không xem xét, giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không có nên không xem xét, giải quyết.

[3]. Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về nội dung vụ án, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[4]. Về án phí: Chị Trần Thị Tuyết H chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56 và Điều 81của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Tuyết H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Tuyết H và anh Bùi Ngọc H1.
    • - Về nuôi con chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  3. Chị Trần Thị Tuyết H chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ, chị H đã nộp theo biên lai số 0004122 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Sa Đéc;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Chi cục THA dân sự Tp. Sa Đéc;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn

  • Số bản án: 50/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger