Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI LAI

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 50/2024/ DS – ST

Ngày: 08 - 5 - 2024

V/v: “Tranh chấp thừa kế

quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Hoàng Long
  2. Bà Võ Thị Kim Son

- Thư ký Tòa án – Ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên toà:

Ông Phạm Văn T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2022/TLST- DS ngày 11 tháng 10 năm 2022, về: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1970 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Trần Văn E, sinh năm 1955 (Có mặt)

Ông Trần Văn T1, sinh năm 1961 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phía nguyên đơn ông Trần Văn V yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất tại các thửa 261, 262 và 263 tờ bản đồ số 05, đất toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Ông Trần Văn V (nguyên đơn) trình bày: Cha ông là Trần Văn N (chết năm 2016) và mẹ ông là bà Lê Thị C (chết năm 2013), ông N và bà C chỉ có 03 người con gồm: Trần Văn V, Trần Văn ETrần Văn T1. Quá trình chung sống ông N và bà C có tạo lập được tài sản chung gồm: thửa đất 261, 262, 263 có tổng diện tích 14.777 m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ hiện do mẹ của ông là bà Lê Thị C còn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông hiện đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Bản trích đo địa chính số 794/TTKTTNMT ngày 04/8/2023 có diện tích thực tế là 10.009,7 m² thì ông thống nhất với diện tích này do Nhà nước đã thu hồi 01 phần và do sạt lở. Theo bản trích đo địa chính thì ông thống nhất ông sử dụng vị trí E, diện tích 380,2 m², ông Trần Văn T1 vị trí D, diện tích 456,1 m², ông Trần Văn E vị trí G diện tích 406,6 m². Do cha mẹ chết không để lại di chúc nên ông ngoài những vị trí đang sử dụng ổn định ở trên thì các phần diện tích đất còn lại của 03 thửa ông đề nghị chia đều cho 03 anh em và ông được hưởng một kỷ phần. Ngoài ra, trước đây cha mẹ ông có cho 03 anh em mỗi người 05 công đất (tầm 03m) ở vị trí khác, phần đất này anh em đã tự sang bán rồi và không yêu cầu chia thừa kế cũng như giải quyết trong vụ án này. Trong trường hợp ông E, ông T1 muốn giữ lại đất đang canh tác thì ông yêu cầu được nhận giá trị theo phần thừa kế. Ông thống nhất ổn định cho ông T1 vị trí F (theo bản trích đo địa chính). Riêng vị trí D là nhà của cha mẹ và có mồ mã nên thống nhất để làm chỗ thờ cúng và giao cho ông T1 quản lý.

Ông Trần Văn E (bị đơn) trình bày: Cha ông là Trần Văn N và mẹ ông là bà Lê Thị C có tất cả 03 người con gồm: Trần Văn V, Trần Văn ETrần Văn T1. Quá trình chung sống có tạo lập được tài sản chung gồm: thửa đất 261, 262, 263 có tổng diện tích 14.777 m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Cha mẹ chết không để lại di chúc, hiện nay ông đang canh tác trên phần đất khoảng 03 công đất vườn (vị trí B theo bản trích đo địa chính), đang trồng cam và sầu riêng. Nếu ông V nhận đất theo chia thừa kế thì phải hoàn lại giá trị cây trồng trên đất cho ông, còn đối với yêu cầu của ông V muốn nhận giá trị thì ông không có khả năng. Riêng trước đây cha mẹ ông có cho 03 anh em mỗi người 05 công đất (tầm 03m) ở vị trí khác, phần đất này ông còn đang canh tác và không yêu cầu chia thừa kế. Ông thống nhất ổn định cho ông T1 vị trí F, ổn định cho ông Việt vị trí E1 (theo bản trích đo địa chính). Riêng vị trí D là nhà của cha mẹ và có mồ mã nên thống nhất để làm chỗ thờ cúng và giao cho ông T1 quản lý. Ông xác định không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Ông Trần Văn T1 (bị đơn) trình bày: Cha ông là Trần Văn N và mẹ ông là bà Lê Thị C có tất cả 03 người con gồm: Trần Văn V, Trần Văn E và ông là Trần Văn T1. Quá trình chung sống ông N, bà C có tạo lập được tài sản chung gồm: thửa đất 261, 262, 263 có tổng diện tích 14.777 m² đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Cha mẹ ông chết không để lại di chúc, hiện nay ông đang canh tác trên phần đất nếu theo bản trích đo địa chính là vị trí A và toàn bộ thửa 261, đang trồng chôm chôm và sầu riêng đã thu hoạch vụ đầu tiên. Nếu ông V nhận đất theo chia thừa kế thì phải hoàn lại giá trị cây trồng trên đất cho ông, còn đối với yêu cầu của ông V muốn nhận giá trị thì ông không có khả năng. Riêng trước đây cha mẹ ông có cho 03 anh em mỗi người 05 công đất (tầm 03m) ở vị trí khác, phần đất này ông đã chuyển nhượng cho người khác và thống nhất không yêu cầu chia thừa kế. Trước đây, cha mẹ còn sống do ông E phụng dưỡng, khi cha mẹ mất thì ông là người lo mồ mã, thờ cúng hàng năm. Đối với vị trí F (theo bản trích đo địa chính) hiện nay ông đang ở trên phần đất này, còn vị trí D là nhà của cha mẹ trên đất có mồ mã của cha mẹ nên ông đề nghị làm chỗ thờ cúng và ông chịu trách nhiệm chăm sóc, tu bổ, các anh em được quyền lui tới chăm sóc mồ mã, cúng kiếng hàng năm. Nếu chia đất thì ông có ý kiến để lại vị trí A cho ông V và ông V trả giá trị cây trồng lại cho ông. Ông thống nhất ổn định cho ông E vị trí G, ổn định cho ông Việt vị trí E1 (theo bản trích đo địa chính). Riêng vị trí D là nhà của cha mẹ và có mồ mã nên ông yêu cầu được quản lý sử dụng để làm nơi thờ cúng. Ông xác định không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn V. Ổn định phần vị trí và diện tích đất đã sử dụng cho ông Trần Văn E và ông Trần Văn T1 tại thửa 261 và thửa 262. Buộc ông T1 và ông E có trách nhiệm thanh toán giá trị quyền sử dụng đất lại cho ông V. Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của ông V, ông E và ông T1 đối với diện tích đất thuộc thửa 263. Đối với cây trồng, vật kiến trúc và công trình trên đất do vẫn giữ ổn định người quản lý sử dụng, các đương sự không đặt ra tranh chấp nên không xem xét giải quyết (Kèm theo bài phát biểu của kiểm sát viên).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện và yêu cầu của đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.

[2] Tại phiên tòa cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện phía nguyên đơn, bị đơn thống nhất được hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Văn N và bà Lê Thị C, khối di sản có tranh chấp và thời điểm mở thừa kế. Đây là tình tiết không phải chứng minh. Tại phiên tòa sơ thẩm giữa ông V với ông T1 và ông E thống nhất chia thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên các bên đương sự còn chưa thống nhất được việc giao tài sản cho người này hưởng, đứng tên sử dụng và có trách nhiệm trả giá trị theo kết quả định giá tại thửa 261 và thửa 262, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Đối với thửa 263 thì ông V, ông E và ông T1 thống nhất giao phần công trình, kiến trúc trong diện tích 456,1 m² CLN theo vị trí D của bản trích đo địa chính cho ông Tư h, đứng tên quyền sử dụng đất để làm nơi thờ cúng. Đồng thời ông V, ông T1 và ông E tại phiên tòa cũng thống nhất được vị trí và diện tích của các phần còn lại trong thửa 263. Theo đó: Ông Trần Văn E được hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất tại vị trí G của bản trích đo địa chính diện tích 406,6 m² (Trong đó có 100 m² ONT+306,6 m² CLN); Ông Trần Văn T1 được hưởng và đứng tên quyền sử dụng đất tại vị trí F của bản trích đo địa chính diện tích 440,8 m² (Trong đó có 100 m² ONT+340,8 m² CLN); Ông Trần Văn V được hưởng phần đất tại vị trí E của bản trích đo địa chính diện tích 380,2 m² (Trong đó có 100 m² ONT+280,2 m² CLN), cây trồng và công trình vật kiến trúc có trên phần đất nào thì người đó hưởng, không yêu cầu định giá giải quyết. Sự tự nguyện thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên ghi nhận.

[3] Đối với thửa 261 và thửa 262 có diện tích tổng cộng là 8.326 m² loại đất trồng lúa, ông Trần Văn T1 đang quản lý sử dụng toàn bộ thửa đất 261 với diện tích 3.114,5 m² và một phần thửa 262 tại vị trí A của bản trích đo địa chính với diện tích 1.334,6 m²; Ông Trần Văn E đang quản lý sử dụng một phần thửa 262 với diện tích 3.621,2 m² tại vị trí B và diện tích 255,7 m² tại vị trí C của bản trích đo địa chính. Thấy rằng: Tại phần thửa 261 và 262 ông T1 và ông E đã sử dụng ổn định và trồng cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Vả lại, ông V cũng yêu cầu nhận giá trị đất tại thửa 261 và thửa 262 với giá đất trồng lúa là 90.000 đồng/m². Do đó, không chia đất thực tế tại thửa 261 và thửa 262 mà ổn định cho ông T1 và ông E tiếp tục sử dụng, đồng thời buộc ông E và ông T1 có trách nhiệm thanh toán giá trị lại cho ông V trên cơ sở chia thừa kế tính chênh lệch diện tích được hưởng và sử dụng thực tế.

[3.1] Tổng diện tích theo đo đạc thực tế của thửa 261 và 262 là 8.326 m² chia làm 3 theo phần = 2.775,3 m²/phần; Ông Trần Văn T1 được chia hưởng và sử dụng thực tế là 4.449,1 m² – 2.775,3 m² theo phần được hưởng thì còn phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông V là 1.673,8 m² x 90.000 đồng/m² = 150.642.000 đồng. Ông Trần Văn E được chia hưởng và sử dụng thực tế là 3.876,9 m² – 2.775,3 m² theo phần được hưởng thì còn phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông V là 1.101,6 m² x 90.000 đồng/ m² = 99.144.000 đồng.

[3.2] Về cây trồng trên đất tại thửa 261 và 262 do không có biến động về người sử dụng, không phải là di sản thừa kế mà cây trồng là do ông T1 và ông E trồng. Phía bị đơn không có yêu cầu phản tố, các đương sự tại phiên tòa không yêu cầu định giá, giải quyết mà giao cho ai thì người đó được hưởng theo diện tích, vị trí đất. Riêng nhà và các công trình vật kiến trúc khác tại thửa 263 phía nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất không đặt ra định giá, xem xét tính giá trị để giải quyết mà thuộc phần đất của ai được chia thì người đó hưởng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá: Cần buộc ông Trần Văn V, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn E chịu nộp theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Cần buộc ông Trần Văn V chịu nộp theo quy định của pháp luật. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn E do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng :

  • Điều 6, khoản 5 Điều 26, Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, 92 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật dân sự;
  • Điều 100; Điều 104; Điều 105 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn V.

Ổn định cho ông Trần Văn T1 được hưởng và sử dụng toàn bộ thửa 261 diện tích 3.114,5 m² LUC và diện tích 1.334,6 m² LUC tại thửa 262 tờ bản đồ số 05 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (theo vị trí A của Bản trích đo địa chính) cùng cây trồng tọa lạc trên đất và có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Trần Văn V 150.642.000 đồng

Ổn định cho ông Trần Văn T1 được hưởng diện tích 456,1 m² CLN theo vị trí D và diện tích 440,8 m² (Trong đó có 100 m² ONT+340,8 m² CLN) tại vị trí F của bản trích đo địa chính, thuộc thửa 263, tờ bản đồ số 05 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ông Trần Văn T1 được quyền sử dụng các công trình, vật kiến trúc tọa lạc trên đất.

Ổn định cho ông Trần Văn E hưởng và sử dụng diện tích 3.876,9 m² LUC tại thửa 262, tờ bản đồ số 05 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (theo vị trí B, C của Bản trích đo địa chính) cùng cây trồng tọa lạc trên đất và có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Trần Văn V 99.144.000 đồng.

Ổn định cho ông Trần Văn E được hưởng diện tích 406,6 m² (Trong đó có 100 m² ONT+306,6m² CLN) tại vị trí G của bản trích đo địa chính, thuộc thửa 263, tờ bản đồ số 05 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ông Trần Văn E được quyền sử dụng các công trình, vật kiến trúc tọa lạc trên đất.

Ổn định cho ông Trần Văn V được hưởng diện tích 380,2 m² (Trong đó có 100 m² ONT+280,2 m² CLN) tại vị trí E của bản trích đo địa chính, thuộc thửa 263, tờ bản đồ số 05 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ông Trần Văn V được quyền sử dụng các công trình, vật kiến trúc tọa lạc trên đất.

Về cây trồng, vật kiến trúc trên đất, các đương sự thống nhất không đặt ra giải quyết để chia giá trị, khi thuộc phần đất của ai thì người đó hưởng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 261, 263 và thửa 263, tờ bản đồ số 5, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 000232 do Ủy ban nhân dân huyện Ô (cũ) cấp cho bà Lê Thị C ngày 24/9/1996 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T1, ông Trần Văn V và ông Trần Văn E trên cơ sở yêu cầu của đương sự khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Vị trí thửa đất được xác định theo Bản trích đo địa chính số: 794/TTKTTNMT ngày 04/8/2023 của Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C. (Đính kèm bản án).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Trần Văn V chịu nộp 16.254.000 đồng. Chuyển số tiền tạm ứng án phí 10.866.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005642 ngày 06 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thành tiền án phí. Ông Trần Văn V còn phải nộp tiếp 5.388.000 đồng.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn E.

Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Buộc ông Trần Văn E chịu nộp 2.500.000 đồng, ông Trần Văn T1 chịu nộp 3.000.000 đồng, ông Trần Văn T1 chịu nộp 3.000.000 đồng. Ông Trần Văn V đã nộp tạm ứng 8.500.000 đồng và đã chi thực tế xong. Buộc Trần Văn T1 và ông Trần Văn E mỗi người có trách nhiệm nộp lại 3.000.000 đồng để trả lại cho ông Trần Văn V.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án để Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ để xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Thới Lai;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Thới Lai;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hs, vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoài T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/ DS – ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 50/2024/ DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger