|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH B Số: 50/2021/HNGĐ - ST Ngày 29 tháng 7 năm 2021 V/v: “Tranh chấp về ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư, Bà Nguyễn Thị Vượng
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố B
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công T - kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 136/2021/TLST – HNGĐ ngày 15/4/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐST-DS ngày 01/7/2021, quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20/7/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị P, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 3, xã Phú Sơn, huyện NQ, tỉnh NB - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm: 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Cụm 4, phường Mỹ Độ, thành phố B, tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 05/04/2021 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Đinh Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Sơn, huyện NQ, tỉnh NB ngày 12/12/2011 và tổ chức lễ cưới tại gia đình hai bên theo phong tục tập quán. Sau khi cưới, vợ chồng chị chung sống với gia đình chồng tại tổ 4, phường Mỹ Độ, thành phố B. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc ngay sau khi kết hôn, nguyên nhân do anh T không chịu tu chí làm ăn, không công ăn việc làm, thường xuyên uống rượu say, nhiều lần đã đánh chị, bố mẹ chồng chị nhiều lần phải can ngăn nhưng không được. Do mâu thuẫn gay gắt, không thể tiếp tục chung sống nên tháng 1 năm 2013 chị đã về nhà ngoại sinh sống, kể từ đó đến nay vợ chồng chị ly thân, mỗi người sống một nơi, anh T thỉnh thoảng có gọi điện nhưng chỉ chửi bới chị. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T ly hôn. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có. Chị P xin vắng mặt khi xét xử.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, song không đến Tòa án làm việc, không có bản tự khai gửi Tòa án.
Bà Phan Thị B là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T tại biên bản làm việc với Tòa án ngày 24/6/2021 trình bày: Năm 2011 gia đình bà tổ chức lễ cưới cho anh T và chị P theo phong tục tập quán địa phương. Anh T và chị P có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Sơn, huyện NQ, tỉnh NB. Sau khi cưới, vợ chồng anh T sống cùng bà tại tổ 4, phường Mỹ Độ, cuộc sống vợ chồng anh T cũng bình thường, có mâu thuẫn nhưng không lớn, bà có thấy anh T đánh chị P. Sau khi kết hôn khoảng một năm thì anh T, chị P đi làm ăn xa, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn đến năm 2013 chị P bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở NB sinh sống, còn anh T về ở với bà từ đó đến nay. Anh T và chị P đã sống ly thân từ năm 2013 và đến nay không có bất kỳ mối quan hệ gì, không còn ai quan tâm đến ai. Anh T và chị P không có con chung, không có tài sản chung, cộng nợ chung. Nay chị P yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng không đến Tòa án làm việc, không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình. Đề nghị căn cứ điều 28, điều 35, điều 39; điều 147; điều 227, điều 228; điều 238; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị xử cho chị Đinh Thị P và anh Nguyễn Văn T ly hôn. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung không đặt ra xem xét. Về án phí, chị P phải chịu. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Đơn khởi kiện của nguyên đơn Đinh Thị P cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã chấp hành đúng pháp luật. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa ngày 20/7/2021 và phiên tòa ngày 29/7/2021, HĐXX căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[4]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, xác minh tại gia đình bị đơn cho thấy, Chị Đinh Thị P và anh Nguyễn Văn T đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Sơn, huyện NQ, tỉnh NB ngày 12/12/2011, HĐXX xác định quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T là hợp pháp.
Về mâu thuẫn: Lời khai của chị Đinh Thị P, lời trình bày của bà Phan Thị B là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T đều xác định ngay sau khi kết hôn một thời gian, giữa anh T và chị P đã xảy ra mâu thuẫn, đánh cãi nhau, từ đầu năm 2013 thì chị P đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại NQ, NB sinh sống, vợ chồng từ đó đến nay không liên lạc, không qua lại, không quan tâm đến nhau. Điều đó cho thấy thực trạng hôn nhân của chị P và anh T đã nhiều năm nay không hòa thuận, là vợ chồng nhưng không thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ với nhau, do đó mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị P kiên quyết yêu cầu ly hôn, mặc dù anh T không đến Tòa án để nêu ý kiến, quan điểm, nhưng HĐXX xét thấy tình trạng mâu thuẫn của anh, chị đã trầm trọng, kéo dài, không thể hòa giải, căn cứ điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị P và anh T ly hôn.
Về con chung: Chị P và anh T không có con chung.
[5]. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[7]. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điều 28, điều 35, điều 39; điều 147; điều 227, điều 228; điều 238; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị P.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị P và anh Nguyễn Văn T ly hôn.
Về án phí: Chị Đinh Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0001045 ngày 15/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B. Xác nhận chị P đã nộp đủ tiền án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 50/2021/HNGĐ - ST ngày 29/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 50/2021/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị P, sinh năm: 1989 (vắng mặt) Địa chỉ : Thôn 3, xã Phú Sơn, huyện NQ, tỉnh NB 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm: 1988 (vắng mặt) Địa chỉ: Cụm 4, phường Mỹ Độ, thành phố B, tỉnh B
