Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THAN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 50/2021/HS-ST

Ngày: 31/3/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Vượng
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Tý; Bà Trần Thị Oanh

- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông: Hoàng Văn Trưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 31/3/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2021/TLST-HS, ngày 10/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52 /2021/QĐXXST-HS ngày 17/3/2021 đối với bị cáo:

LÙ THỊ B (tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 01/01/1982
Nơi sinh: huyện T tỉnh Lai Châu
Nơi cư trú: Bản M xã H huyện T tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Bố đẻ Lù A V sinh năm 1967 mẹ đẻ Tráng Thị B sinh năm 1967; Chồng Vàng A L sinh năm 1986; Bị cáo có 04 con, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ hồi 15 giờ 40 phút, ngày 24/12/2020, đến hồi 15 giờ 40 phút, ngày 28/12/2020 bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H huyện T tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch: Giàng Thị D, sinh năm 1995. Trú tại khu 2 thị trấn Than Uyên huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lù Thị B là người nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ trưa ngày 24/12/2020, B đi từ bản M, xã Hố Mít, huyện Tân Uyên xuống bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, B gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, qua nói chuyện B hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 250.000 đồng. Mua được Heroine, B cấu ra một ít sử dụng, số Heroine còn lại B gói lại như ban đầu rồi nắm giữ trong lòng bàn tay phải, không cho ai biết. Ngay sau đó có một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đến hỏi mua Heroine của B, người đàn ông để vào tay B số tiền 300.000 đồng, Lù Thị B chưa kịp trả lời với người đàn ông B không bán Heroine thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang Lù Thị B vào hồi 15 giờ 05 phút về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ gồm 01 gói Heroine có khối lượng 0,46 gam và số tiền 300.000 đồng. Đối với người đàn ông hỏi mua Heroine của B khi thấy lực lượng Công an đã bỏ chạy nên lực lượng Công an không bắt giữ được.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp ngày 24/12/2020 của người giám định theo vụ việc kết luận: Chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Thị B có khối lượng: 0,46 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 33 ngày 28/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Thị B gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Đối với số tiền 300.000 đồng: Tại Bản Kết luận giám định số 33 ngày 28/12/2020 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lai Châu kết luận: là tiền thật.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,40 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; số tiền 300.000 đồng đều thu giữ của Lù Thị B, hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 08/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lù Thị B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lù Thị B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Thị B từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình, khấu trừ 04 ngày đã tạm giữ cho bị cáo, đề nghị không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa ngày hôm nay Lù Thị B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, bản ảnh cân tịnh để xác định khối lượng, bản kết luận giám định số 32 ngày 28/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 24/12/2020 tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Lù Thị B đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 250.000 đồng của một người không rõ nhân thân, lai lịch, mục đích để sử dụng. Mua được Heroine, Lù Thị B đã cấu ra một ít để sử dụng, số Heroine còn lại B nắm trong lòng bàn tay phải ngay sau đó có người đàn ông không rõ lai lịch đến hỏi mua Heroine của B, người đàn ông lạ mặt để vào tay B số tiền 300.000 đồng, Lù Thị B chưa kịp trả lời thì bị công an huyện Than Uyên phát hiện bắt quả tang, quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay Lù Thị B khai chưa đồng ý bán thì đã bị bắt, mục đích B mua Heroine là để sử dụng vì bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Hành vi của bị cáo Lù Thị B phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội. Ma túy hiện nay trở thành vấn nạn nhức nhối cho toàn xã hội và bản thân sử dụng sẽ bị hủy hoại về sức khỏe, tinh thần rối loạn, giảm khả năng lao động, nhân cách bị tha hóa, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.

[4] Xét về nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lù Thị B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn bản thân bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, khi quyết định hình phạt theo điểm s khoản 1, 2 điều 51- Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án là: 01 bì niêm phong bên trong chứa đựng: 0,40 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy; số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo xét thấy đây không phải tiền của bị cáo là tiền của người không rõ lai lịch mục đích sẽ dùng vào việc bất hợp pháp nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Lù Thị B khai mua của người đàn ông không rõ lai lịch Do đó, không đủ căn cứ để điều tra xử lý.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế khó khăn theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 kèm theo Quyết định số 72 ngày 16/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ nên được miễn án phí HSST.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Lù Thị B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lù Thị B 20 (hai mươi) tháng tù. (Khấu trừ cho bị cáo 04 ngày đã bị tạm giữ). Thời hạn tù còn phải chấp hành là 19 tháng 26 ngày. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.
  2. Về vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong chứa đựng: 0,40 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331, 333 – Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên./.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Than Uyên;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
- Bị cáo; CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên 2;
- Cơ quan thi hành án hình sự huyện Than Uyên;
- Chi cục THADS Than Uyên;
- Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA




GIANG THỊ VƯỢNG
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2021/HS-ST ngày 31/03/2021 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 50/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên phạt 20 tháng tù về tội TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger